|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG THÁP Bản án số: 85/2025/HS-ST Ngày: 03 - 12 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thưa
- - Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Lê Thị Bé Bảy;
- Ông Nguyễn Tất Ái.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trạng – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đồng Tháp.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2025/HSST-QĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 19/10/1977 tại tỉnh T (nay là tỉnh Đ); Số CCCD: 08207701**** cấp ngày 05 tháng 7 năm 2022; Nơi cư trú và chỗ ở: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh T (nay là ấp L, xã C, tỉnh Đ); Nghề nghiệp: bán vé số; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị B; Bị cáo có vợ và 01 con; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân:
- + Bản án số: 05/2002/HSST ngày 16/11/2002 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, đã xóa án tích;
- + Bản án số: 14/2003/HSST ngày 14/3/2003 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Hiếp dâm”. Tổng hợp hình phạt với Bản án số: 05/2002/HSST ngày 16/11/2002 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 04 năm tù, chấp hành xong ngày 02/9/2005, đã xóa án tích;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Bà Trần Thị H, sinh năm 1973; (xin vắng mặt)
Nơi cư trú: số 246, khu phố 23, phường Đ, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 04/3/2025, Nguyễn Hoàng L cùng bà Trần Thị H và ông Võ Thành T (tên thường gọi là H), nhậu tại quán nhậu thuộc Ấp 5, xã Đạo Thạnh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (nay là Khu phố 27, phường Đạo Thạnh, tỉnh Đồng Tháp). Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, L cùng bà H và ông H ra về. Khi đến trước nhà số 134, ấp Long Hòa B, xã Đạo Thạnh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (nay là số 134, khu phố Long Hòa B, Phường Đạo Thạnh, tỉnh Đồng Tháp), thì dừng lại để bà H mua vé số. Lúc này, bà H đậu xe môtô biển số 63B9-913.68 gần quầy vé số, chìa khóa cắm sẵn trên xe, rồi xuống xe vào mua vé số. Do thấy bà H có để tiền trong cốp xe nên L nảy sính ý định lấy trộm. L dẫn xe của bà H đi một đoạn rồi mở cốp xe lấy cái bóp màu hồng, lấy số tiền 5.000.000 đồng, gồm 10 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Sau đó, L ném bóp vào hàng rào nhà dân bên cạnh đường. Số tiền trộm được, L trả nợ cho một người (không rõ họ, tên và địa chỉ) 3.000.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết 2.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 06/CT-VKS ngày 08/10/2025 của Viện kiểm sát nhân Khu vực 1 - Đồng Tháp truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Đồng Tháp vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Bị cáo Nguyễn Hoàng L rất ăn năn hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng:
[1.1] Tại phiên tòa bị hại bà Trần Thị H xin vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt trên không ảnh hưởng đến việc xét xử và vẫn đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người này. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt đương sự trên.
[1.2] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Bị cáo khai nhận: Vào ngày 04/3/2025, tại xã Đạo Thạnh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (nay là phường Đạo Thạnh, tỉnh Đồng Tháp), Nguyễn Hoàng L đã có hành vi lấy trộm số tiền 5.000.000 đồng của bị hại Trần Thị H như nội dung Cáo trạng đã nêu, không có oan sai.
Lời khai nhận trên của bị cáo Nguyễn Hoàng L đã phù hợp với biên bản hiện trường của Cơ quan Cảnh sát điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, đồng thời khớp với các lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[2.2] Về động cơ, mục đích, hành vi của tội phạm: Bị cáo có đầy đủ sức khỏe và năng lực hành vi, nhưng chỉ vì không chịu lao động, khi phát hiện tài sản bị cáo đã lén lút chiếm đoạt mục đích lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi phạm tội trên của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương.
[2.3] Với các chứng cứ tài liệu đã nêu trên, Tòa án có đầy đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Hoàng L đã có hành vi lén lút, lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của bị hại trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp số tiền 5.000.000 đồng. Cho nên hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[2.4] Xét về nhân thân của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Hoàng L là người có nhân thân xấu, đã từng bị đưa ra xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” và “Hiếp dâm”.
[2.5] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Hoàng L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; cha mẹ bị cáo là người có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[2.6] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3] Trên cơ sở đánh giá hành vi phạm tội, nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo L có nhân thân không tốt, từng bị đưa ra xét xử hành vi “Trộm cắp tài sản” và “Hiếp dâm”. Tuy nhiên sau khi chấp hành xong hình phạt, bị cáo không nhận thức được lỗi lầm của mình mà lại tiếp tục phạm tội. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục răn đe và phòng chống tội phạm, đồng thời cho bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì các bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã khắc phục hậu quả, bồi thường xong cho bị hại. Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.
[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng L phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
[7] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- - Các Điều 136; 292 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng L phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án để Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm. Trường hợp những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Thưa |
Bản án số 85/2025/HS-ST ngày 03/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG THÁP về hình sự: trộm cắp tài sản
- Số bản án: 85/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tại bản cáo trạng số: 06/CT-VKS ngày 08/10/2025 của Viện kiểm sát nhân Khu vực 1 - Đồng Tháp truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Linh về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự
