|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 85/2025/HS - PT Ngày 27 tháng 6 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng và Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Chương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thuý Hằng-Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2025/TLPT-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025 do có kháng cáo của bị cáo Phạm Ngọc H, đối với bản án hình sự sơ thẩm số 35/2025/HS-ST ngày 25/3/2025 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2025/QĐXXPT-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025.
- Bị cáo kháng cáo: Phạm Ngọc H, sinh ngày 14/01/2005 tại huyện T, tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T, sinh năm 1983; con bà Trương Thị O, sinh năm 1984; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bắt tạm giam từ ngày 28/9/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Trần Đức L không kháng cáo, không bị kháng nghị; các bị hại không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 25/09/2024 Phạm Ngọc H rủ Trần Đức L sinh ngày 08/02/2008 trú tại thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình đi cướp tài sản lấy tiền tiêu xài cá nhân thì L đồng ý. H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen BKS: 17B8 - 516.82 chở L ngồi phía sau đến đoạn đường liên xã thuộc địa phận thôn C, xã T, huyện T mục đích chờ người đi đường sơ hở sẽ cướp tài sản nhưng không thấy có người qua lại nên L nói với H “Đi cướp phải có vũ khí thì người ta mới sợ”, H hiểu ý L nên điều khiển xe mô tô chở L đến khu vực chợ H4 để tìm mua dao. Trên đường đi, thấy có 01 con dao bầu dài khoảng 20cm cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại đã han rỉ H dừng xe còn L xuống nhặt con dao giấu trong người. H tiếp tục chở L đi đến đoạn đường giao thông Đ221A thuộc địa phận thôn C, xã T, huyện T thì phát hiện chị Lê Thị H1 sinh năm 1987 trú tại thôn T, xã N, huyện T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ BKS: 17N8- 2356 đi một mình theo hướng ngược chiều từ xã T về xã T, có đeo 01 chiếc balo màu đen nên H điều khiển xe quay ngược lại đuổi theo chị H1. Khi chị H1 đi đến đoạn đường liên xã T - T thuộc địa phận thôn C, xã T thấy vắng người qua lại H điều khiển xe vượt lên áp sát ép từ phía bên trái xe của chị H1 làm chị H1 và xe mô tô ngã và đổ ra vệ cỏ. L nhảy xuống xe cầm dao bầu ở tay phải đe dọa “đưa hết tiền đây, không tao giết chết”. Chị H1 sợ hãi tháo chiếc balo đang đeo trên người đưa cho L và nói: “Thôi hai anh tha cho em, tiền ở trong ba lô đây”. L mở balo lấy thấy trong ví có 500.000 đồng. Sau đó cả hai điều khiển xe bỏ chạy, trên đường đi L vứt con dao xuống sông. Số tiền chiếm đoạt được L chia cho H 200.000đồng, số tiền còn lại Lương tiêu sài cá nhân hết.
Ngoài ra, từ ngày 25/9/2024 đến ngày 26/9/2024 bằng phương thức thủ đoạn trên, hai bị cáo còn 06 lần thực hiện hành vi cướp giật tài sản và 01 lần thực hiện hành vi Cướp tài sản, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 25/09/2024, Phạm Ngọc H điều khiển xe mô tô chở L lên thành phố T mục đích cướp giật tài sản. Khi đi đến đoạn đường L, phường T, thành phố T phát hiện bà Trần Thị Ngọc T1 sinh năm 1963 trú tại tổ F, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen BKS: 17H2 - 7785 đi cùng chiều, vừa đi vừa nghe điện thoại. Hoan chờ cho bà T1 đi đến đoạn đường vắng người qua lại, vượt lên áp sát phía bên trái xe mô tô của bà T1 còn L dùng tay phải giật chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 plus màu hồng trị giá 2.000.000 đồng của bà T1 rồi cả hai phóng xe tẩu thoát.
Vụ thứ hai: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 25/09/2024, Phạm Ngọc H điều khiển xe mô tô BKS: 17B8 - 516.82 chở Trần Đức L ngồi sau rủ nhau đi đến khu vực huyện Đ, tỉnh Thái Bình mục đích để cướp giật tài sản. Khi đi đến đoạn đường QL.10 thuộc địa phận xã Đ, huyện Đ phát hiện chị Đoàn Thị N sinh năm 1995, trú tại xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode màu đỏ BKS: 17B5- 509.27 đi phía trước cùng chiều, trên người có đeo 01 túi xách giả da màu nâu. H điều khiển xe vượt lên phía bên phải xe mô tô của chị N còn L dùng tay giật được chiếc túi rồi bỏ chạy, trên đường đi L mở túi lấy 700.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 mini màu xanh, dung lượng 64G, trị giá 5.000.000 đồng còn vứt chiếc túi xuống đường. Số tiền 700.000 đồng và chiếc điện thoại chiếm đoạt được cả hai chưa tiêu xài, chưa bán cho ai.
Vụ thứ ba: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 26/09/2024, Phạm Ngọc H và Trần Đức L rủ nhau đi lên thành phố T, tỉnh Thái Bình mục đích để đe dọa cướp tài sản. Trước khi đi H mang theo 01 khẩu súng đồ chơi bằng nhựa màu đen (dạng súng ngắn) đã nhặt được từ trước cất giấu trong người, sau đó H điều khiển xe mô tô chở Trần Đức L ngồi sau. Khi đi đến khu vực đường vành đai phía Nam thuộc địa phận thôn T, xã V, thành phố T phát hiện chị Nguyễn Thị H2 sinh năm 1989 trú tại thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình đang ngồi bán phụ kiện điện thoại trên thùng xe tải. Quan sát xung quanh vắng người qua lại, L ngồi trên xe mô tô cảnh giới còn H đi bộ đến gần giả vờ hỏi chị H2 mua phụ kiện điện thoại rồi nhảy lên thùng xe rút súng nhựa dí vào đầu chị H2 đe dọa “Có bao nhiêu đưa hết tiền đây”. Chị H2 sợ nhưng cùng lúc này chị H2 phát hiện có xe của người qua đường đi đến gần lên tri hô “cướp, cướp” đồng thời dùng tay hất mạnh làm rơi nắp súng xuống sàn xe. Thấy vậy H nhảy xuống lên xe cùng L bỏ chạy.
Vụ thứ tư: Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 26/09/2024, sau khi không cướp được tài sản của chị Nguyễn Thị H2, Trần Đức L và Phạm Ngọc H rủ nhau đi cướp giật tài sản. L điều khiển xe chở H ngồi sau đến khu vực cầu B thuộc địa phận phường L, thành phố T thì phát hiện bà Trần Thị Kim T2 sinh năm 1975 trú tại tổ A, phường H, TP . đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ BKS:17B1- 113.82 bên người có đeo 01 túi vải màu đen, thấy vậy L điều khiển xe áp sát để H ngồi sau giật lấy chiếc túi bên trong túi có số tiền 700.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen, dung lượng 64G, trị giá 3.500.000 đồng rồi nhanh chóng tẩu thoát, sau khi lấy tài sản trong túi H vứt chiếc túi lại ven đường. Tài sản chiếm đoạt được cả hai chưa tiêu thụ được.
Vụ thứ năm: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 26/09/2024, Trần Đức L tiếp tục điều khiển xe mô tô chở Phạm Ngọc H ngồi sau đi đến khu vực huyện H mục đích để cướp
giật tài sản. Khi đi đến đoạn đường C thuộc địa phận xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình thì phát hiện phía trước cùng chiều có bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1967 trú tại thôn T, xã H, huyện H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen BKS: 17B4- 11238 chở phía sau là chị Lưu Thị H3 sinh năm 1974, trú tại thôn Q, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình. Thấy chị H3 có đeo bên người 01 túi giả da màu đen nhãn hiệu CD, trị giá 180.000 đồng, L điều khiển xe vượt lên áp sát từ phía sau bên phải để H giật chiếc túi nhưng H giật trượt làm chiếc túi rơi xuống đường. Cả hai không quay lại nhặt túi mà phóng xe bỏ chạy đi về hướng tỉnh Hà Nam.
Vụ thứ sáu: Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 26/09/2024, Trần Đức L điều khiển xe mô tô nhân hiệu Honda Wave Alpha màu đen BKS: 17B8 - 516.82 chở Phạm Ngọc H đi đến khu vực đường tránh gần nút giao Liêm T thuộc địa phận thôn B, xã L, thành phố P, tỉnh Hà Nam (nay là Tổ dân phố B, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam) thì phát hiện chị Đỗ Thị Việt T3 sinh năm 2001 trú tại thôn B, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen BKS: 30K6- 9484 đi phía trước cùng chiều bên người có đeo 01 túi giả da màu đen nhãn hiệu Chanel, trị giá 133.000 đồng. L điều khiển xe áp sát từ phía sau bên phải để H giật chiếc túi nhưng H giật trượt làm chiếc túi rơi xuống đường, cả hai không dừng lại nhặt túi mà phóng xe bỏ chạy về hướng tỉnh Nam Định để về tỉnh Thái Bình.
Vụ thứ bảy: Khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 26/09/2024, Phạm Ngọc H điều khiển xe mô tô chở Trần Đức L ngồi sau đi từ hướng cầu V, thành phố T vào đường vành đai để về ngã tư T, thành phố T. Khi cả hai đi đến đoạn đường C thuộc địa phận xã V, thành phố T thì phát hiện chị Phan Thị Q sinh năm 1988 trú tại thôn Q, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen BKS: 15B3- 413.80 đi phía trước cùng chiều bên người có đeo 01 túi vải màu xanh nhãn hiệu Lelgy, trị giá 75.000 đồng, trong túi có 560.000 đồng và 01 hộp đựng nhẫn (loại hộp vỏ quýt) bằng nhựa màu cam bên trong có 02 chiếc bông tai trang sức bằng mỹ ký, mạ màu vàng trị giá 50.000 đồng. H điều khiển xe vượt lên từ phía sau bên phải sau đó áp sát xe của chị Q để L giật lấy chiếc túi rồi phóng xe bỏ chạy về hướng ngã tư T. Sau khi lấy hết tài sản trong túi, L vứt túi lại ven đường gần đó rồi cả hai phóng xe bỏ chạy về hướng huyện T. Tài sản chiếm đoạt được cả hai chưa tiêu thụ được.
Bản án số 35/2025/HS-ST ngày 25/3/2025 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, đã quyết định:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phạm Ngọc H, Trần Đức L phạm các tội “Cướp tài sản” và “ Cướp giật tài sản”.
- Về hình phạt:
+ Áp dụng vào điểm d, khoản 2, Điều 168; điểm d, khoản 2, Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; điểm g khoản 1, Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản” và 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của cả hai tội, buộc bị cáo Phạm Ngọc H chấp hành chung hình phạt là 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/9/2024.
+ Áp dụng vào điểm d, khoản 2, Điều 168; điểm d, khoản 2, Điều 171; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 50; điểm g khoản 1, Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 119, Điều 179 Luật Tư pháp Người chưa thành niên năm 2024. Xử phạt bị cáo Trần Đức L 04 (bốn) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Cướp tài sản” và 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của cả hai tội, buộc bị cáo Trần Đức L chấp hành chung hình phạt là 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/9/2024.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 08/4/2025 bị cáo Phạm Ngọc H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo giữ nguyên kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trong bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Ngọc H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: kháng cáo của bị cáo Phạm Ngọc H làm trong thời hạn luật định nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của bị cáo Trần Đức L và được chứng minh bằng các chứng cứ sau: Đơn trình báo và lời khai của bị hại; Biên bản
tạm giữ tài sản đồ vật, tài liệu, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 28/9/2024 tại Công an huyện T; Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T lập trong các ngày 27/9/2024; 18/11/2024; 09/12/2024;17/11/2024; 19/11/2024; 21/11/2024; Sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan cảnh sát điều tra lập tại huyện T, huyện Đ, huyện H, thành phố T; Các bản kết luận định giá tài sản. Do đó có đủ cơ sở kết luận: trong các ngày 25/9/2024 và 26/9/2024 tại đoạn đường liên xã thuộc địa phận thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình và tại khu vực đường vành đai phía Nam thuộc địa phận thôn T, xã V, thành phố T, Phạm Ngọc H và Trần Đức L đã 02 lần thực hiện hành vi cướp tài sản của chị Lê Thị H1 trú tại huyện T và chị Nguyễn Thị H2 trú tại thành phố T để chiếm đoạt số tiền 500.000 đồng. Ngoài ra, tại các địa điểm là thành phố T; xã Đ, huyện Đ; xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình và thành phố P, tỉnh Hà Nam với thủ đoạn dùng xe mô tô, áp sát xe mô tô của những người bị hại, Phạm Ngọc H và Trần Đức L còn 06 lần thực hiện hành vi cướp giật tài sản của những người bị hại là chị Trần Thị Ngọc T1, chị Đoàn Thị N, chị Trần Thị Kim T2, chị Lưu Thị H3, chị Đỗ Thị Việt T3, chị Phan Thị Q để chiếm đoạt tài sản có tổng trị giá 13.398.000 đồng. Do đó Tòa án sơ thẩm tuyên bố các bị cáo Phạm Ngọc H và bị cáo Trần Đức L phạm tội “Cướp tài sản” theo điểm điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự và tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, khoản 2, Điều 171 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Ngọc H: hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, chỉ trong 2 ngày bị cáo và bị cáo L đã liên tiếp thực hiện 02 hành vi cướp tài sản và 06 hành vi cướp giật tài sản với thủ đoạn nguy hiểm, giữa ban ngày nơi có nhiều người qua lại thể hiện việc coi thường pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mà còn có khả năng cao gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của bị hại, gây tâm lý hoang mang, lo sợ, bất bình trong xã hội.
Bị cáo H là người khởi xướng, rủ rê, lôi kéo bị cáo L là người dưới 18 tuổi phạm tội nên Toà án sơ thẩm chỉ áp dụng 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội từ 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với H là có phần thiếu sót
Bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động đến gia đình tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, các bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, vai
trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo H, Tòa án sơ thẩm xử phạt bị cáo H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản” và 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản” là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên toà phúc thẩm bị cáo không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào mới làm căn cứ xem xét giảm nhẹ hình phạt, do vậy áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí: do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Ngọc H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 35/2025/HS-ST ngày 25/3/2025 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc H phạm tội “Cướp tài sản” và tội “ Cướp giật tài sản”.
1.2 Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản” và 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Phạm Ngọc H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/9/2024.
2. Về án phí phúc thẩm: căn cứ Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Phạm Ngọc H phải chịu 200.000 ( hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 27 tháng 6 năm 2025.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Minh Huệ |
Bản án số 85/2025/HS - PT ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (cướp tài sản và cướp giật tài sản)
- Số bản án: 85/2025/HS - PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp tài sản và Cướp giật tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 85/2025/HS-PT ngày 25/7/2025
