Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 85/2025/HS-PT

Ngày: 23-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thiện Tâm
  • Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Phượng
    Ông Nguyễn Phước Thanh
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ánh Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kim Thoa – Kiểm sát viên.

Ngày 16 và 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2025/TLPT-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025. Do có kháng cáo của người bị hại Nhan Đủ T, Nhan Thanh M và Nguyễn Thị M1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Bị cáo bị kháng cáo:

  1. 1. La Vũ L, tên gọi khác: V, sinh ngày: 23/4/1996, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: Số C, ấp D, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện tại: Ấp D, xã H, huyện C, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông La Tấn C và bà Nguyễn Thị Ngọc M2; vợ Nguyễn Thị Mỹ P, con 02 người sinh năm 2017 và sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không.

    Bị hại Tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

  2. 2. Nguyễn Hoàng A, sinh ngày: 24/3/1982, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: Số C, ấp D, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện tại: Ấp D, xã H, huyện C, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn U và bà Nguyễn Thị T; vợ Nguyễn Thị Ngọc M2, chưa có con; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị hại Tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại có kháng cáo:

  1. Ông Nhan Đủ T, sinh năm: 1995 (Có mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm: 1996 (Có mặt).
  3. Ông Nhan Thanh M, sinh năm: 1980.

Cùng địa chỉ: Ấp A, xã Đ, huyện T, Thành phố Cần Thơ.

  • - Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nhan Thanh M: Bà Nguyễn Thị Ngọc T2, sinh năm 2001. Địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Long An (Có mặt).
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Luật sư Trần Văn T – Thành viên Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có 03 người làm chứng không bị kháng cáo, không bị kháng nghị nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 05/01/2024, các bị hại Nhan Đủ T, Nguyễn Thị M1, Nhan Thanh M cùng các ông bà Nhan Vũ L1 và Lâm Thị Tuyết N đến quán cơm của bà Nguyễn Thị Ngọc M2 tại đường số 33, khu dân cư Sài Gòn Village, thuộc Ấp D, xã H, huyện C để đòi nợ tiền công trình xây dựng trước đó. Tại đây, nhóm của bị hại T có lời qua tiếng lại rồi xảy ra mâu thuẫn cự cãi với bà Ngọc M2. Lúc này, bị cáo Nguyễn Hoàng A (chồng của bà Ngọc M2) đi từ trong nhà ra giật lấy con dao tự chế do bà Ngọc M2 đang cầm trên tay, đưa mũi dao về hướng của nhóm bị hại T và nói “Tao chặt tụi mày chết mẹ bây giờ”. Bị cáo La Vũ L (con ruột Ngọc M2) đi từ phía sau lên giật lấy con dao tự chế trong tay bị cáo A cầm bên tay phải, đi đến chỗ bị hại M đang đứng cách khoảng 01 mét, chém 01 cái trúng vào vùng trán của bị hại M gây thương tích. Sau đó, bị hại M bỏ chạy, bị cáo L tiếp tục cầm dao tự chế đuổi theo bị hại M. Cùng lúc này, tại quán cơm bị cáo A lấy 01 cây tuýp sắt (bằng kim loại, dài 113cm) đánh trúng vào tay, chân và vùng trán bên trái của bị hại T gây thương tích. Thấy vậy, bị hại Nguyễn Thị M1 bỏ chạy, nhưng bị té ngã xuống vỉa hè và bị bị cáo L dùng dao tự chế chém 01 cái trúng vào vùng sau gáy cổ của bị hại M2 gây thương tích. Sau đó, các bị hại T, M và M1 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương và xuất viện cùng ngày. Ngày 18/3/2024, các bị hại Nhan Đủ T, Nguyễn Thị M1 và Nhan Thanh M đến Công an xã Long Hậu, huyện Cần Giuộc, trình báo và yêu cầu xử lý hình sự những người đã gây thương tích cho các bị hại.

  1. Tại Giấy chứng nhận thương tích ngày 03/6/2024 của Bệnh viện Nguyễn Tri Phương – Sở y tế Tp. Hồ Chí Minh, xác định:
    • - Tình trạng thương tích của Nguyễn Thị M1 lúc vào viện:
      • + Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc được. Da niêm hồng.
      • + Vùng sau gáy cổ: vết thương da nông #1x1 cm, sưng nề đỏ nhẹ xung quang.
    • - Tình trạng thương tích lúc ra viện:
      • + Bệnh nhân tỉnh táo, không yếu liệt chi.
      • + Vết thương vùng cổ gáy đã được rửa, băng vết thương.

    Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 198/KLTTCT-TTPY ngày 10/7/2024 của Trung tâm pháp y Sở y tế Long An, xác định: tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Thị M1 là 02% (Hai phần trăm).

    Kết luận khác:

    • + 01 sẹo vết thương vùng cổ gáy kích thước trung bình tỷ lệ 02% (Hai phần trăm).
    • + Không đủ cơ sở để trả lời cơ chế hình thành vết thương.
  2. Tại Giấy chứng nhận thương tích ngày 03/6/2024 của Bệnh viện Nguyễn Tri Phương – Sở y tế Tp. Hồ Chí Minh, xác định:
    • - Tình trạng thương tích của Nhan Đủ T lúc vào viện:
      • + Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc được. Da niêm hồng.
      • + Trán bên (T) có vết thương #3cm, sâu #0.5cm, rách da, chảy máu. Cánh tay (P) hạn chế vận động, sưng đỏ, ấn đau. Gối (T) hạn chế gập, sưng đỏ, ấn đau.
    • - Tình trạng thương tích lúc ra viện:
      • + Bệnh nhân tỉnh táo, không yếu liệt chi.
      • + Vết thương trán bên (T) đã được khâu.

    Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 199/KLTTCT-TTPY ngày 10/7/2024 của Trung tâm pháp y Sở y tế Long An, xác định: tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nhan Đủ T là 03% (Ba phần trăm).

    Kết luận khác:

    • + Sẹo vết thương vùng trán. Tỷ lệ 03% (Ba phần trăm).
    • + Cơ chế hình thành vết thương không đủ cơ sở để trả lời do vật gì gây nên.
  3. Tại giấy chứng nhận thương tích ngày 30/5/2024 của Bệnh viện Nguyễn Tri Phương – Sở y tế Tp. Hồ Chí Minh, xác định:
    • - Tình trạng thương tích của Nhan Thanh M lúc vào viện:
      • + Bệnh nhân tỉnh táo.
      • + Rách da 3cm giữa trán (đã được tuyến dưới khâu vết thương).
    • - Tình trạng thương tích lúc ra viện:
      • + Bệnh nhân tỉnh táo.
      • + Vết thương đã được khâu.
      • + Kết quả MSCT sọ não không ghi nhận tổn thương nhu mô não.

    + Kết quả Xquang ngực thẳng, Xquang cột sống cổ, Xquang khung chậu, siêu âm bụng: chưa ghi nhận bất thường.

    Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 200/KLTTCT-TTPY ngày 10/7/2024 của Trung tâm pháp y Sở y tế Long An, xác định: tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nhan Thanh M là 01% (Một phần trăm).

    Kết luận khác:

    • + 01 sẹo nhỏ vùng giữa trán nằm trong chân tóc có tỷ lệ 01 (Một phần trăm).
    • + Không có cơ sở xác định vết thương do vật tày hay vật nhọn gây nên.

Tại Bản cáo trạng số 04/CT-VKSCG, ngày 19/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, đã truy tố các bị cáo La Vũ L và Nguyễn Hoàng A về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long, đã tuyên xử:

Tuyên bố: Các bị cáo La Vũ L và Nguyễn Hoàng A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, i và s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt:

  • - Bị cáo La Vũ L 01 (Một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án 17/01/2025.
  • - Bị cáo Nguyễn Hoàng A 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án 17/01/2025.

Về trách nhiệm dân sự:

  • - Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng A bồi thường cho bị hại Nhan Đủ T số tiền 7.857.000 đồng.
  • - Buộc bị cáo La Vũ L bồi thường cho bị hại Nhan Thanh M số tiền 7.191.000 đồng và bị hại Nguyễn Thị M1 số tiền 6.210.000 đồng.
  • - Tiếp tục tạm giữ số tiền 10.000.000 đồng của bị cáo La Vũ L đã tạm nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc theo biên lai thu số 0005046, ngày 24/12/2024 và số tiền 5.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Hoàng A đã tạm nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc theo biên lai thu số 0005047, ngày 24/12/2024 để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về chế định đối với án treo, về xử lý vật chứng, lãi suất chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 07/02/2025, các bị hại Nhan Đủ T, Nhan Thanh M và Nguyễn Thị M1 kháng cáo đối với bản án sơ thẩm như sau:

  • - Yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng không áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như án sơ thẩm xem xét áp dụng; tăng hình phạt mỗi bị cáo 03 năm tù; trả hồ sơ làm rõ các hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và “Đe dọa giết người”; buộc bị cáo La Vũ L trả tiền công lao động là 57.105.000 đồng.
  • - Về trách nhiệm dân sự, yêu cầu bồi thường các khoản như sau: Bị hại Nhan Đủ T yêu cầu ngày công lao động với số tiền 24.750.000 đồng, bồi thường tiền sửa chữa xe mô tô bị hư hỏng là 5.000.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 117.000.000 đồng; bị hại Nhan Thanh M yêu cầu ngày công lao động với số tiền 24.750.000 đồng, bồi thường tiền sửa chữa xe mô tô bị hư hỏng là 5.000.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 117.000.000 đồng; bị hại Nguyễn Thị M1 yêu cầu ngày công lao động với số tiền 18.000.000 đồng, bồi thường tiền sửa chữa xe mô tô bị hư hỏng chung với bị hại Nhan Đủ T là 5.000.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 117.000.000 đồng

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Xác định thương tích của bị hại Nhan Thanh M và Nguyễn Thị M1 do bị cáo La Vũ L gây ra, còn thương tích của bị hại Nhan Đủ T do bị cáo Nguyễn Hoàng A gây ra. Đối với thiệt hại về tài sản là 02 xe mô tô (01 xe của bị hại T và 01 xe của bị hại M) do bị cáo L gây ra cùng thời điểm gây ra thương tích cho các bị hại. Quá trình điều tra vụ án, cũng như trước khi mở phiên tòa sơ thẩm để xét xử vụ án các bị hại nộp “Bảng tường trình và Văn bản trình bày ý kiến” tại Tòa án, trong đó có yêu cầu trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và yêu cầu bồi thiệt hại hại về tài sản, nhưng chưa được cấp sơ thẩm điều tra làm rõ để xử lý theo quy định và bồi thường cho các bị hại.

Các bị cáo La Vũ L và Nguyễn Hoàng A không đồng ý đối với nội dung kháng cáo của các người bị hại. Các bị cáo đêu xác định thương tích như trên của các bị hại là do các bị cáo gây ra. Tuy nhiên, việc các bị cáo gây thương tích cho các bị hại xuất phát từ hành vi trái pháp luật ngay trước đó của các bị hại. Hành vi của các bị hại được thể hiện trong các file đã được các bị cáo sao chép lại từ điện thoại di động, camera và đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cần Giuộc, các bản ảnh thể hiện hành vi của các bị hại tại phiên tòa sơ thẩm để xem xét làm rõ, nhưng không được xem xét cho các bị cáo. Các bị cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm để điều tra làm rõ lại hành vi phạm tội của các bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên toà phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thủ tục và thời hạn kháng cáo của các bị hại là thực hiện đúng quy định của pháp luật, nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ.

Về nội dung vụ việc: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy: Cấp sơ thẩm chưa điều tra, thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ và có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Do vậy, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc để điều tra lại vụ án theo quy định của pháp luật.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại trình bày: Thống nhất với quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về đề nghị hủy bản án sơ thẩm và giao hồ sơ vụ án cho cấp sơ thẩm để điều tra lại vụ án cho toàn diện và đầy đủ.

Các bị cáo và người bị hại không có tranh luận.

Lời nói sau cùng các bị cáo không trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07/02/2025 các bị hại Nhan Đủ T, Nhan Thanh M và Nguyễn Thị M1 có Đơn kháng cáo. Xét Đơn kháng cáo của các bị hại được thực hiện trong thời hạn luật định, nên được xét xử theo trình tự, thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung vụ việc và yêu cầu kháng cáo:

[2.1] Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên toà, xét thấy:

Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản của các bị hại: Trong đó, mỗi bị hại yêu cầu là 5.000.000 đồng, cho rằng đây là thiệt hại của 02 xe mô tô của các bị hại đã bị bị cáo La Vũ L gây thiệt hại cùng với thời điểm gây thương tích đối với các bị hại ngày 05/01/2024. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án tại các Bút lục số 80, 169, 173, 206 và 208 thể hiện bị cáo La Vũ L có hành vi gây thiệt hại đến tài sản là 02 xe mô tô của các bị hại cùng thời điểm bị cáo đã gây thương tích cho các bị hại. Quá trình Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý vụ án, các bị hại nộp “Bảng tường trình và Văn bản trình bày ý kiến” tại Tòa án, trong đó có yêu cầu trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp để điều tra làm rõ có hay không có hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” của bị cáo La Vũ L? Nếu có, thì đó là tài sản gì và thuộc quyền sở hữu hay quản lý của ai thời điểm bị thiệt hại? Giá trị tài sản bị thiệt hại là bao nhiêu, có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hay không?.

Đối với tài liệu chứng cứ các bị cáo cung cấp tại các bút lục 296 – 299 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, trong đó thể hiện: 01 người nam thanh niên, một tay cầm 01 cái búa, 01 tay cầm một con dao; 02 người nam thanh niên còn lại, mỗi người cầm trên tay một cái ghế bằng kim loại. Tại cấp phúc thẩm, các bị hại Trình bày là hình ảnh của các bị hại được Camara ghi lại và file hình ảnh này các bị cáo đã sao chép, giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cần Giuộc xem xét hành vi trái pháp luật của các bị hại, nhưng không được xem xét. Tại cấp phúc thẩm, các bị hại Tiếp tục cung cấp 01 USB, trong đó có chứa đựng các hình ảnh, cử chỉ và thái độ của những người có trong các ảnh nêu trên. Xét, đây là dữ liệu điện tử phải được thu thập, trưng cầu giám theo đúng trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nhằm để chứng minh những người trong các hình ảnh, trong file ghi hình được chứa trong USB mà các bị cáo giao nộp là ai? Xảy ra tại đâu, thời gian nào và có liên quan gì đến hành vi phạm tội của các bị cáo không? Nếu có, thì hành vi của những người này có trái pháp luật không? Tất cả chưa được cấp sơ thẩm điều tra làm rõ.

[2.2] Từ những căn cứ và nhận định trên, xét thấy cấp sơ thẩm chưa điều tra, thu thập đầy đủ chứng cứ và có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm a và b khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự. Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2024/HS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc để điều tra lại vụ án theo quy định của pháp luật, như đề nghị của đại diện Viên kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa và quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại là có căn cứ để chấp nhận.

Do bản án sơ thẩm bị tuyên hủy, nên không xem xét đến kháng cáo của các bị hại.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo và người bị hại có kháng cáo không phải chịu án phí. Hoàn lại tiền tạm ứng phúc thẩm cho các bị hại.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 355, các điểm a và b khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An để điều tra lại vụ án theo quy định của pháp luật.

  2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo La Vũ L và Nguyễn Hoàng A; người bị hại Nhan Đủ T, Nhan Thanh M và Nguyễn Thị M1 không phải chịu án phí. Hoàn lại tiền tạm ứng phúc thẩm cho người bị hại Nhan Đủ T, Nhan Thanh M và Nguyễn Thị M1 theo các Biên lai thu số 0014074, 0014075, 0014076 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Cần Giuộc;
  • - VKSND huyện Cần Giuộc;
  • - Chi cục THADS huyện Cần Giuộc;
  • - Công an tỉnh Long An
  • - Bị cáo;
  • - Người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thiện Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2025/HS-PT ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 85/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự Phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger