|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 85/2025/HS-PT
Ngày: 19 - 3 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tấn Long.
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Anh Đào;
Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thái Ngọc Nhật - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa:
Bà Đoàn Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 202/2024/HS-PT ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Đặng Viết M và các đồng phạm khác. Do có kháng cáo của bị cáo Đặng Viết M và bị hại bà Dương Thị Hồng D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2024/HS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
Bị cáo:
-
Đặng Viết M, sinh ngày 09 tháng 7 năm 1994, tại thành phố H, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: tổ B, khối S, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 8/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Đặng Viết T và bà Lê Thị Tố L; có vợ là Trương Thị Mỹ L1 và có 03 con; tiền án: ngày 09/12/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn xử phạt 06 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” (theo Bản án số: 123/2022/HS-ST, chấp hành xong ngày án phạt tù vào ngày 31/7/2023); tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/3/2024, đến ngày 24/4/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”; ngày 27/5/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.
-
Đặng Thị Mỹ C, sinh ngày 27 tháng 7 năm 1990, tại tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: tổ B, khối S, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Đặng Viết T và bà Lê Thị Tố L; có chồng là Nguyễn Tấn V và có 02 con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.
-
Huỳnh Châu P, sinh ngày 25 tháng 12 năm 1995, tại tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: tổ A, khối P, phường S, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Huỳnh Tiến A và bà Nguyễn Thị T1; có vợ là Trần Thị Thu H và có 01 con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.
-
Trương Thị Mỹ L1, sinh ngày 06 tháng 6 năm 1997, tại thành phố H, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: tổ B, khối S, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Trương L2 và bà Nguyễn Thị Kim T2; có chồng là Đặng Viết M và có 02 con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại có kháng cáo: Bà Dương Thị Hồng D, sinh năm 1991. Địa chỉ: H L, khối T, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 45 phút ngày 29/10/2023, bà Dương Thị Hồng D đang uống cà phê cùng với Nguyễn Đức T3, Trần Thị N và Đỗ Thế T4 tại quán C2, địa chỉ: A Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam thì có một nhóm thanh niên khoảng 03 người (không rõ nhân thân, lai lịch) mang khẩu trang đi vào quán, một người thanh niên mặc áo khoác đen, quần jean lửng, đội mũ lưỡi trai màu đen, đeo khẩu trang, kính đen hỏi: “Có ai là D ở đây không?”. Bà D vừa mới trả lời: “Diễm đây”, thì người thanh niên này dùng tay phải tát liên tiếp vào đầu của bà 0 (Ba) cái rồi dùng tay trái cầm giữ tay bà lại. Ông T3 vào can ngăn thì cũng bị thanh niên này dùng tay hất đẩy ra. Người thanh niên tiếp tục dùng tay tát vào đầu bà D nhưng bà đỡ được. Ông Đinh Thanh H1 (chủ quán cà phê) ra can ngăn thì người thanh niên này tiếp tục dùng tay tát vào lưng 01 (Một) cái và sau đầu của bà D 01 (Một) cái. Ngoài ra, một thanh niên đi cùng mặc quần lửng, áo khoác Jean màu xanh, đội mũ bảo hiểm màu đen dùng tay tát phía sau đầu của bà D 01(Một) cái; người thanh niên còn lại thì cầm điện thoại quay video. Sau đó, nhóm thanh niên này rời đi khỏi quán.
Khoảng 10 phút sau, các bị cáo Đặng Viết M, Huỳnh Châu P, Trương Thị Mỹ L1 cùng một thanh niên (bạn bị cáo M, tên H2; tên gọi khác: Huy C1) và hai người bạn của H2 (không rõ lai lịch) đi vào quán. Bị cáo M hỏi bà D: “Sao bà nói xấu chị tôi trên mạng xã hội”, bà D không trả lời mà cùng với bà Trần Thị N đi vào quầy tính tiền của quán nên M và P đi theo sau. M dùng tay kéo bà D ra khu vực cửa sắt quán cà phê và dùng tay đánh vào mặt bà 01 (Hai) cái; bị cáo P dùng tay đánh vào lưng bà D 01 (Một) cái. Khi bà D ngồi xuống đất thì bị M dùng tay trái nắm lấy tóc, tay phải cầm chiếc dép lào đang mang, đánh liên tiếp vào mặt và đầu của bà 02 (T5) cái. Bà N vào can ngăn nhưng không được. Bị cáo M tiếp tục dùng chân phải đạp vào người bà D, tiếp tục cầm dép trên tay phải đánh vào đầu và mặt bà thêm 03 (Ba) cái. Anh T3 vào can ngăn thì bị M cầm dép trên tay phải đánh anh 03 (Một) cái và M cầm dép trên tay trái tiếp tục đánh bà D thêm 01 (Một) cái. Huỳnh Châu P dùng tay phải lấy chiếc dép xốp loại 2 quai, xỏ ngón đang mang trên chân phải đánh vào đầu chị D 01 (Một) cái. Sau đó, Đặng Viết M cầm dép trên tay phải đánh vào đầu chị D thêm 01 (Một) cái và dùng chân phải đạp lên đầu bà D 01 (Một) cái. Bị cáo Trương Thị Mỹ L1 cầm điện thoại di động Iphone 6S, màu xám của bị cáo M quay video và nói: “Đánh vô cái mỏ hắn đó” 07 (Bảy) lần với mục đích là nói M đánh vào miệng của bà D. Sau đó, M điện thoại cho bị cáo Đặng Thị Mỹ C kể lại sự việc vừa đánh bà D ở quán cà phê trên rồi cả nhóm bỏ đi ra trước quán đợi C; bị cáo P điều khiển xe về nhà.
Khoảng 10 phút sau, Đặng Thị Mỹ C đến quán C2, cùng với nhóm của M (gồm: Mỹ, L1, H2) đi vào quán; thấy D đang đứng tại khu vực bên phải quán cà phê trước cửa ra vào, C nói D: “Tao với mi không quen biết mà mi mất dạy vậy”, rồi nói Đặng Viết M: “Lôi hắn ra”. Nghe vậy, bị cáo M cùng với H2 xông vào nắm tóc D lôi ra khu vực giữa sân của quán. Ông Đinh Thanh H1 thấy vậy liền can ngăn. Lúc này, bà D nằm xuống nền sân quán, M dùng tay tát lên mặt, dùng dép đánh lên người và dùng chân phải đạp lên mặt bà. Bị cáo C cũng dùng tay phải đánh vào mặt và dùng chân phải đạp vào người bà D nhưng bà dùng tay đỡ nên C đánh trúng vào tay. Lúc này, ông T3, bà N vào can ngăn thì bị M dùng tay đánh lên mặt ông T3 01 (Một) cái, còn bà N cũng bị bị cáo C dùng tay tát trên mặt 01 (Một) cái. Bị cáo Trương Thị Mỹ L1 tiếp tục cầm điện thoại di động Iphone 6s của M quay video và nói: “Lôi hắn ra đi” 12 (Mười hai) lần và nói: “Đánh đi” 03 (Ba) lần; mục đích nói Mỹ và C kéo bị hại ra ngoài giữa quán cà phê và đánh bị hại. Một lúc sau các bị cáo M, L1, C và người tên H2 rời đi, trước khi đi C có nói D: “Mất dạy à, ngồi chỗ mô tao đánh chỗ nấy”.
Qua điều tra xác định: Trước đây, bà D có góp vốn cho bà Nguyễn Thị H3 để mua một lô đất; sau đó bà H3 chuyển nhượng lô đất cho bị cáo C, nhưng C còn nợ lại bà Hằng số tiền 700.000.000 đồng. Sau đó, D yêu cầu bà H3 lấy lại tiền góp ban đầu thì biết C còn nợ số tiền này nên bà D nhiều lần bình luận trên trang Facebook cá nhân của C yêu cầu trả nợ. Hai bên bắt đầu có những mâu thuẩn trên mạng xã hội. Bị cáo C cho rằng việc này làm ảnh hưởng đến việc kinh doanh của mình; trong khi giữa C mà D không có nợ nần gì nên kể lại cho em trai Đặng Viết M biết. M kể lại cho bạn mình, trong đó có người thanh niên tên H2. Ngày 29/10/2023, H2 nhìn thấy D ngồi ở quán C2 nên điện thoại cho M. Lúc này, bị cáo M đang cùng vợ là Trương Thị Mỹ L1 và Huỳnh Châu P viếng mộ tại phường Đ, thị xã Đ về lại thành phố H. Nghe vậy, M chở L1 đến quán C2; P cùng đi theo, sau đó xảy ra sự việc như trên.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 891/KLTTCT-TTPY ngày 21/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Q xác định: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Dương Thị Hồng D tại thời điểm giám định là 04 % (Bốn phần trăm), cụ thể như sau:
- + 01 vết sẹo nhỏ vùng thái dương phải, tỉ lệ 01% (Một phần trăm).
- + Vết trầy xước dài 1,5cm ở trên thái dương bên phải không để lại dấu vết gì nên không xếp tỉ lệ.
- + 01 sẹo kích thước nhỏ vùng đỉnh bên phải, tỉ lệ 01% (Một phần trăm).
- + 01 vết thương nông không rõ hình dạng dài 01cm ở sau gáy hiện không để lại dấu vết gì nên không xếp tỉ lệ.
- + Gãy cung trước xương sườn số VII bên phải hiện đã cal xương tốt khó nhận biết, tỉ lệ 02% (Hai phần trăm).
Ngày 18/12/2023, bà Dương Thị Hồng D có đơn yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can và yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền là 7.486.000 đồng (Bảy triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn đồng).
Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2024/HS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Đặng Viết M, Đặng Thị Mỹ C, Huỳnh Châu P và Trương Thị Mỹ L1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- - Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Đặng Viết M 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ vào thời gian tạm giam trước (từ ngày 08/3/2024 đến ngày 23/4/2024).
- - Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Đặng Thị Mỹ C 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.
- Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án đối với bị cáo.
- Khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo C số tiền 500.000 đồng/01 tháng (năm trăm nghìn đồng/01 tháng) để sung quỹ Nhà nước trong thời gian bị cáo chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ.
- - Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Châu P 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.
- Xử phạt bị cáo Trương Thị Mỹ L1 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
- Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án đôi với các bị cáo.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Vào ngày 15 và 16/7/2024, bị cáo Đặng Viết M có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; bị hại bà Dương Thị Hồng D có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị tăng hình phạt đối với các bị cáo Đặng Viết M, Đặng Thị Mỹ C, Huỳnh Châu P và Trương Thị Mỹ L1 và xem xét lại phần bồi thường thiệt hại. Các bị cáo Đặng Thị Mỹ C, Huỳnh Châu P và Trương Thị Mỹ L1 không kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Đặng Viết M, Đặng Thị Mỹ C, Huỳnh Châu P và Trương Thị Mỹ L1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ. Đồng thời, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để làm căn cứ xử phạt bị cáo Đặng Viết M 09 tháng tù, bị cáo Đặng Thị Mỹ C 09 tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo Huỳnh Châu P 09 tháng cải tạo không giam giữ và bị cáo Trương Thị Mỹ L1 06 tháng cải tạo không giam giữ là đúng pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, không phát sinh tài liệu, chứng cứ mới, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đặng Viết M và kháng cáo tăng hình phạt của bị hại bà Dương Thị Hồng D, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo Đặng Viết M, Đặng Thị Mỹ C, Huỳnh Châu P và Trương Thị Mỹ L1 về phần hình phạt. Đối với kháng cáo của bà Dương Thị Hồng D về phần trách nhiệm dân sự, tại cấp sơ thẩm bị hại và các bị cáo đã thoả thuận bồi thường xong nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị hại.
Các bị cáo không tranh luận, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Đặng Viết M có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; bị hại bà Dương Thị Hồng D có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị tăng hình phạt đối với các bị cáo Đặng Viết M, Đặng Thị Mỹ C, Huỳnh Châu P và Trương Thị Mỹ L1 và xem xét lại phần bồi thường thiệt hại. Xét đơn kháng cáo của bị cáo Đặng Viết M và bị hại bà Dương Thị Hồng D trong hạn luật định theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của bị cáo Đặng Viết M và bị hại bà Dương Thị Hồng D là hợp pháp.
Tại phiên toà phúc thẩm vắng mặt bị hại có kháng cáo Dương Thị Hồng D, Toà án đã triệu tập hợp lệ bị hại Dương Thị Hồng D lần thứ hai nhưng bị hại đều làm đơn xin hoãn phiên toà nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh có lý do chính đáng. Xét thấy, việc vắng mặt của bị hại không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị hại nhưng không được ra bản án hoặc quyết định không có lợi cho bị hại theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Đặng Viết M, Đặng Thị Mỹ C, Huỳnh Châu P và Trương Thị Mỹ L1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản án sơ thẩm đã quy kết. Xét lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, bản kết luận giám định về thương tích và các tài liệu, chứng cứ được chứng minh có tại hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Giữa bà Dương Thị Hồng D và bị cáo Đặng Thị Mỹ C có xảy ra thuẫn trên mạng xã hội Facebook từ trước. C kể lại cho em trai là bị cáo Đặng Viết M biết. M kể lại sự việc trên cho các bạn mình, trong đó có người thanh niên tên H2. Ngày 29/10/2023, H2 nhìn thấy bà D đang ngồi với bạn tại quán cà phê SMILE nên điện thoại cho M đến. Tại đây, bị cáo M dùng tay, chân, dép đánh nhiều lần vào nhiều vị trí trên người bà D; bị cáo Huỳnh Châu P dùng tay và dép đánh bị D 02 (hai) cái; bị cáo Đặng Thị Mỹ C có hành vi chỉ đạo M lôi bà D ra ngoài, dùng tay tát, đánh vào mặt và dùng chân đạp vào người bà D gây thương tích; bị cáo Trương Thị Mỹ L1 có lời nói hô hào, kích động lên ý thức, hành vi của các bị cáo khác, dùng điện thoại di động quay video. Hậu quả gây thương tích cho bà Dương Thị Hồng D với tỷ lệ thương tích là 04%. Chỉ vì một chút mâu thuẫn, nguyên cớ nhỏ nhặt, các bị cáo Đặng Viết M, Đặng Thị Mỹ C, Huỳnh Châu P và Trương Thị Mỹ L1 có những hành vi gây thương tích đối với bà Dương Thị Hồng D. Bà D yêu cầu xử lý hình sự đối với các hành vi trái pháp luật trên của các bị cáo. Do đó, bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 04/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam đã kết án các bị cáo Đặng Viết M, Đặng Thị Mỹ C, Huỳnh Châu P và Trương Thị Mỹ L1 về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung tặng nặng “Có tính chất côn đồ” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đặng Viết M và kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với các bị cáo Đặng Viết M, Đặng Thị Mỹ C, Huỳnh Châu P và Trương Thị Mỹ L1 của bị hại bà Dương Thị Hồng D thì thấy:
Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để làm căn cứ xử phạt bị cáo Đặng Viết M 09 tháng tù, bị cáo Đặng Thị Mỹ C 09 tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo Huỳnh Châu P 09 tháng cải tạo không giam giữ và bị cáo Trương Thị Mỹ L1 06 tháng cải tạo không giam giữ là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, không phát sinh tài liệu, chứng cứ gì mới, xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội và mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp, không nặng, đảm bảo tính răn đe giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Viết M và bị hại bà Dương Thị Hồng D, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt theo như đề nghị của Kiểm sát viên.
Đối với kháng cáo của bà Dương Thị Hồng D về phần trách nhiệm dân sự, tại phiên toà sơ thẩm bị hại bà Dương Thị Hồng D và các bị cáo đã tự nguyện thoả thuận bồi thường chi phí điều trị là 7.486.000 đồng, bà D đã nhận đủ số tiền này và bà D không có yêu cầu gì thêm nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết. Vì vậy, bà D kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm tăng mức bồi thường thiệt hại là không có cơ sở để xem xét.
[4] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Đặng Viết M và bị hại bà Dương Thị Hồng D phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Viết M và bị hại bà Dương Thị Hồng D, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 04/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam về phần hình phạt:
- - Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo Đặng Viết M 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ vào thời gian tạm giam trước (từ ngày 08/3/2024 đến ngày 23/4/2024).
- - Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo Đặng Thị Mỹ C 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ “Cố ý gây thương tích”.
- Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án đối với bị cáo.
- Khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo C số tiền 500.000 đồng/01 tháng (năm trăm nghìn đồng/01 tháng) để sung quỹ Nhà nước trong thời gian bị cáo chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ.
- - Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo: H (chín) tháng cải tạo không giam giữ “Cố ý gây thương tích".
- Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án đối với bị cáo.
- - Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo: Trương Thị Mỹ Linh 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ “Cố ý gây thương tích”.
- Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án đối với bị cáo.
2. Bị cáo Đặng Viết M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bà Dương Thị Hồng D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 19/3/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đinh Tấn Long |
Bản án số 85/2025/HS-PT ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 85/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo
