|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 85/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 6 - 2025
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH - TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Linh Thu Hồng
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Điệp
Ông Hoài Đức Huệ
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồng Quốc Văn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 422/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 52/2025/QĐST - HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Dương Thị Mộng T, sinh năm: 1989.
Địa chỉ thường trú: Tổ H, ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
Địa chỉ tạm trú: Ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1987
Địa chỉ thường trú: Ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
Địa chỉ tạm trú: Ấp C, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
(bà T, ông T1 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 16 tháng 10 năm 2024, Đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 01 tháng 4 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Dương Thị Mộng T trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn T1 chung sống với nhau từ năm 2006 đến năm 2012 đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 87/2012 quyển số 01 ngày 03/8/2012, do cả hai đều tự nguyện.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông Nguyễn Văn T1 ham mê chơi bời, không có trách nhiệm với gia đình, khi bà khuyên nhủ thì ông T1 chửi bới xúc phạm, thậm chí đánh đập bà. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 12/2023 cho đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T1.
Về con chung: Bà và ông Nguyễn Văn T1 có 02 con chung, cháu Nguyễn Thị Anh T2, sinh ngày 27/7/2007 và cháu Nguyễn Minh T3, sinh ngày 18/8/2016. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T2 và cháu T3, không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 01/4/2025, bà Dương Thị Mộng T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Nguyễn Văn T1 không đến Tòa làm việc và cũng vắng mặt tại phiên tòa nên không có lời khai.
Ý kiến Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án là đúng pháp luật. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý nguyên đơn có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án để cung cấp lời khai, thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về đường lối giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Mộng T. Xét cho bà T được ly hôn với ông T1. Giao cháu Nguyễn Thị Anh T2, sinh ngày 27/7/2007 và cháu Nguyễn Minh T3, sinh ngày 18/8/2016 cho bà Dương Thị Mộng T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời, ông Nguyễn Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Không xét. Án phí dân sự sơ thẩm bà T phải chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về tư cách tố tụng và quan hệ tranh chấp: Bà Dương Thị Mộng T khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Văn T1 và đề nghị được nuôi dưỡng con chung. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định bà Dương Thị Mộng T là nguyên đơn, ông Nguyễn Văn T1 là bị đơn. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Qua xác minh tại địa phương, ông Nguyễn Văn T1 đăng ký tạm trú và hiện đang sinh sống tại địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xác định yêu cầu khởi kiện của bà T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
[1.3] Về vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn đều được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông T1 tự nguyện xây dựng gia đình với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (Giấy chứng nhận kết hôn số 87/2012, quyển số 01 ngày 03/8/2012) nên được xem là hôn nhân hợp pháp.
Xét thấy, Tại biên bản xác minh ngày 23/12/2024, Ủy ban nhân dân xã L, huyện N xác định không biết mâu thuẫn giữa bà T, ông T1 vì các đương sự không trình báo, không yêu cầu hòa giải. Quá trình giải quyết, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T1, nhưng ông T1 không đến Tòa án làm việc, chứng tỏ ông T1 không có thiện chí đoàn tụ, Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Căn cứ vào chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện bà T và ông T1 kết hôn năm 2012, đến tháng 12/2023 thì tự sống ly thân nhau đến nay, bà T khai vợ chồng mâu thuẫn do ông T1 ham mê chơi bời, không có trách nhiệm với gia đình, khi bà khuyên nhủ thì ông T1 chửi bới xúc phạm, thậm chí đánh đập bà nên bà kiên quyết ly hôn. Ông T1 cũng không có thiện chí hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt nên cần căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T, xử cho bà T được ly hôn ông T1 là phù hợp.
[3] Về con chung: Bà T khai, bà và ông T1 có 02 con chung, cháu Nguyễn Thị Anh T2, sinh ngày 27/7/2007 và cháu Nguyễn Minh T3, sinh ngày 18/8/2016. Cháu T2 và cháu T3 đã trên 7 tuổi, qua tham khảo ý kiến hai cháu có nguyện vọng sống với mẹ. Trong quá trình giải quyết, ông Nguyễn Văn T1 không đến Tòa làm việc nên không có ý kiến về con chung. Xét thấy, thời gian ly thân bà T là người trực tiếp nuôi con chung, vì vậy, để đảm bảo cho sự phát triển bình thường, tránh gây xáo trộn về mặt tâm sinh lý của các cháu, cần tiếp tục giao cháu T2 và cháu T3 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.
Bà T nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con nên không xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T khai không có và không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xét.
[5] Về án phí: Theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Dương Thị Mộng T, xử cho bà Dương Thị Mộng T được ly hôn ông Nguyễn Văn T1.
2- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Anh T2, sinh ngày 27/7/2007 và cháu Nguyễn Minh T3, sinh ngày 18/8/2016 cho bà Dương Thị Mộng T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời, ông Nguyễn Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn ông Nguyễn Văn T1 vẫn phải có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Ông T1 có quyền thăm nom con, không ai được cản trở ông T1 thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.
3- Tài sản chung, nợ chung: Không xét.
4- Về án phí: Bà Dương Thị Mộng T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0022103 ngày 23/10/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch, bà T đã nộp đủ án phí.
5- Bà Dương Thị Mộng T, ông Nguyễn Văn T1 được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Linh Thu Hồng |
Bản án số 85/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH - TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 85/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Thị Mộng T - Nguyễn Văn T1 - LH
