Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 85/2025/HNGĐ-ST

Ngày 28/11/2025

V/v “ Tranh chấp ly hôn, con chung".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Vũ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Động

Bà Nguyễn Thị Việt Tím

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Ni, thư ký Tòa án nhân dân Khu Vực 3, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 3, tỉnh An Giang: Không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 58/2025/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2025 về việc “ Tranh chấp ly hôn, con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 66/2025/QÐST- HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị C, sinh năm: 1993 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh An Giang.

Bị đơn : Anh Nguyễn Văn P, sinh năm: 1990 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo đơn khởi kiện ngày 16/7/2025 và các lời khai có trong hồ sơ vụ án chị Phạm Thị C trình bày:

Chị Phạm Thị C và anh Nguyễn Văn P tự nguyện quen biết và chung sống với nhau vào năm 2016, không có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn trễ hạn vào ngày 24/7/2020. Trước khi chung sống vợ chồng có tìm hiểu nhau trước mới tiến tới hôn nhân, hôn nhân tự nguyện không bị cưỡng ép. Sau khi chung sống thời gian đầu hạnh phúc đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng có lối sống không hoà hợp, nhiều lần cự cãi dẫn đến ly thân từ năm 2021 cho đến nay.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 09/12/2019 hiện cháu B đang chung sống với chị C.

- Về tài sản chung: Quá trình chung sống chị C xác nhận vợ chồng không có tài sản chung.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên Tòa chị C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị C yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn P.

- Về con chung: Chị C yêu cầu được nuôi con tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 09/12/2019, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản và nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt, hợp lệ giấy triệu tập cho anh Nguyễn Văn P tham gia phiên họp kiểm tra việc, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và triệu tập tham gia phiên tòa, nhưng anh Nguyễn Văn P đều không có mặt và không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp ly hôn, nuôi con chung bị đơn anh Nguyễn Văn P cư trú tại ấp T, xã T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu Vực 3, tỉnh An Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn P.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Xét mối quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị C và anh Nguyễn Văn P được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang (nay là xã T, tỉnh An Giang) ngày 24/7/2020 số: 91/2020 là phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

[3.1] Xét yêu cầu xin được ly hôn của chị Phạm Thị Chi Hội Đ xét xử xét thấy: Sau khi kết hôn chị C và anh P chung sống hạnh phúc, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, có lối sống không phù hợp từ đó làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng thêm trầm trọng, mặc dù chị C và anh P đã nhiều lần nếu kéo cuộc sống hôn nhân để quay về đoàn tụ và nuôi dạy con chung nhưng không mang lại kết quả. Chị C và anh P đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Trong thời gian ly thân không ai quan tâm đến ai, không chăm sóc, giúp đỡ nhau điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân không đạt được mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hiện được tình nghiã vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; .... Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau.

[3.2] Đối với anh Nguyễn Văn P Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thủ tục tố tụng cho anh P tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để Tòa án động viên anh P và chị C quay về đoàn tụ tiếp tục cuộc sống hôn nhân và nuôi dạy con chung nhưng anh P đều vắng mặt không có lý do và không có văn bản gửi cho Tòa án về ý kiến và yêu cầu của mình. Đều này chứng tỏ anh P bỏ mặc không quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân giữa anh và chị C nữa. Từ những nội dung trên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2, khoản 4, Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị C.

[4] Về con chung: Chị Phạm Thị C xác nhận vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 09/12/2019 hiện cháu B đang chung sống với chị C, chị C yêu cầu được nuôi không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

[4.1] Xét yêu cầu xin được nuôi con của chị Chi Hội Đ xét xử xét thấy từ ngày cháu Gia B sinh ra cho đến nay cháu B vẫn sống với chị C, chị C chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Gia B phát triển tốt về tâm sinh lý, hiện nay cháu B còn nhỏ cần được chăm sóc tốt từ người mẹ. Hiện nay chị C có công việc ổn định thu nhập hàng tháng trên 10 triệu đồng.

Từ những nội dung nêu trên Hội đồng xét xử chấp yêu cầu xin được nuôi con của chị C. Tiếp tục giao cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 09/12/2019 cho chị Phạm Thị C trực tiếp, trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng, anh Nguyễn Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, đồng thời anh P không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị C phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm.

[7] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 khoản 4 Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 56,81,82,83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị C.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị C được ly hôn với anh Nguyễn Văn P.
  3. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 09/12/2019 cho chị Phạm Thị C trực tiếp, trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng, anh Nguyễn Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, đồng thời anh P không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

  4. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0000196 ngày 30/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
  6. Quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh An Giang
  • - VKSND Khu Vực 3;
  • - THA dân sự tỉnh An Giang;
  • - UBND xã;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Danh Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2025/HNGĐ-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, con chung

  • Số bản án: 85/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Chi yêu cầu ly hôn với anh Phước
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger