Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG ĐẤT

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 85/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27-6-2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ-RỊA VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Nam

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Mộng Thu

2. Ông Phạm Hồng Sơn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tín là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 75/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2025/QĐHPT – HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lý Thị Minh T, sinh năm 1991 (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: tổ G, khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Bị đơn: Ông Nguyễn Phong P, sinh năm 1984 (vắng mặt);

Địa chỉ: Số A ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lý Thị Minh T trình bày:

Bà T và ông Nguyễn Phong P tìm hiểu nhau được một thời gian thì tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn ngày 07/01/2014 tại UBND xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01/2014. Sau khi kết hôn thì vợ chồng bà T, ông P sống chung gia đình chồng được một thời gian rồi ra sống riêng trên nhà và đất do cha mẹ ông P cho. Vợ chồng sống chung hạnh phúc cho đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng không hợp nhau thường xuyên cãi nhau và do ông P ghen tuông dẫn đến vợ chồng lời qua tiếng lại trong một thời gian dài, việc này kéo dài dẫn đến bà T, ông P không nói chuyện và chia sẻ với nhau. Từ tháng 3/2024 bà T và ông P đã ly thân, bà T về nhà mẹ đẻ sinh sống từ đó cho đến nay. Bà T và ông P đã tìm cách gắn tình cảm nhưng không có kết quả, vì vậy bà T thấy hôn nhân với ông P không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị Minh T yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Phong P.

- Về con chung: có 01 người con chung là Nguyễn Bảo T1, sinh ngày 19/3/2015. Theo nguyện vọng của cháu T1, bà T đồng ý giao con chung cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng, bà T sẽ cấp dưỡng nuôi con theo khả năng của mình nên không yêu cầu Tòa án ghi nhận mức cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lý Thị Minh T không yêu cầu Tòa án giải quyết

Theo bản tự khai bị đơn ông Nguyễn Phong P trình bày: Ông P thừa nhận vợ chồng có xảy ra cãi vả và mâu thuẫn dẫn đến bà T bỏ về nhà mẹ ruột, quá trình sống chung vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Bảo T1, sinh ngày 19/3/2015 hiện đang sống chung với ông P. Ông P còn thương vợ nên không đồng ý thuận tình ly hôn, mong muốn vợ chồng cùng quay về sống chung để lo cho con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Vụ án thụ lý đúng theo thẩm quyền, Thẩm phán đã tiến hành thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào lời khai của đương sự, các chứng cứ có trong hồ sơ, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị Minh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Phong P cư trú tại xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Đất theo điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bà T yêu cầu ly hôn với ông P nên đây là vụ án hôn nhân và gia đình, quan hệ pháp luật “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Nguyên đơn bà Lý Thị Minh T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Phong P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Tòa án căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà T và ông P.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn của bà Lý Thị Minh T:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của bà T, ông P và giấy chứng nhận kết hôn do UBND xã A, huyện L cấp có đủ cơ sở khẳng định: Bà T và ông P tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2014 đăng ký kết hôn vào ngày 07/01/2014 tại UBND xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Về mâu thuẫn: Bà T và ông P thừa nhận quá trình chung sống đã xảy ra nhiều mâu thuẫn và hiện nay vợ chồng đã ly thân, không ai còn quan tâm đến ai. Tại các buổi hòa giải bà T vẫn cương quyết ly hôn, ông P không đồng ý ly hôn, muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có mặt tại phiên tòa. Xét thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông P đã thật sự trầm trọng dẫn tới cuộc sống chung không có hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận cho bà T được ly hôn ông P.

[2.2] Về con chung: Bà T và ông P có 01 người con chung là Nguyễn Ngọc Bảo T1, sinh ngày 19/3/2015. Hiện cháu T1 đang sống chung với ông P và có nguyện vọng ở với ông P nên cần giao cháu T1 cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông P không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lý Thị Minh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Nguyên đơn bà Lý Thị Minh T phải nộp tiền án phí hôn nhân và đình gia sơ thâm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và Gia đình;
  • - Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Thị Minh T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn ông Nguyễn Phong P.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị Minh T được ly hôn với ông Nguyễn Phong P.

2. Về con chung: Bà Lý Thị Minh T và ông Nguyễn Phong P có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Bảo T1, sinh ngày 19/3/2015.

Theo nguyện vọng của con chung, giao con chung là Nguyễn Ngọc Bảo T1, sinh ngày 19/3/2015 cho ông Nguyễn Phong P trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi), bà Lý Thị Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, bà T và ông P đều có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Bà T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích mọi mặt của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lý Thị Minh T và ông Nguyễn Phong P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết

4. Về án phí: Nguyên đơn bà Lý Thị Minh T phải nộp 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005426 ngày 26/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà T đã nộp xong án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/6/2025) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND h.Long Đất;
  • - TAND tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu;
  • - Chi cục THADS h. Long Đất;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hoài Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 85/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Lý Thị Minh Tâm yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Phong Phú
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger