TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 85/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25-6-2025 V/v tranh chấp ly hôn và con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Phú
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Bé Ngoan
2. Ông Phạm Văn Nhơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Kim Quang Phong – kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 156/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2025, về việc “Tranh chấp ly hôn và con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Bích T, sinh năm 1993 “có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.
Địa chỉ: ấp CT, xã MP, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long.
2. Bị đơn: Anh Trần Tuấn K, sinh năm 1993 “vắng mặt”.
Địa chỉ: ấp HT, xã XH, huyện TO, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 03 tháng 4 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Võ Thị Bé T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị và anh K thành hôn vào năm 2019 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã XH, huyện TO, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 10/9/2019. Thời gian chung sống được 6 năm, lúc đầu vợ chồng sống hạnh phúc, sau này phát sinh mâu thuẫn thường xuyên cự cãi với nhau, hiện vợ chồng không còn chung sống với nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K.
- Về con chung: chị và anh K có 01 con chung tên Trần Gia B, sinh ngày 27/11/2021 hiện đang sống với chị. Nay chị yêu cầu được nuôi con chung, chị yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ đến khi con chung đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã triệu tập các đương sự tham gia phiên họp và phiên hòa giải nhiều lần nhưng bị đơn không trình bày ý kiến bằng văn bản cho Tòa án biết và không đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải với nguyên đơn nên không tiến hành hòa giải được giữa nguyên đơn và bị đơn. Đến khi Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập bị đơn đến tham gia phiên tòa nhiều lần nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa: Chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu ly hôn đối với anh K. Về cấp dưỡng nuôi con chị yêu T yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Bị đơn anh K vắng mặt không lý do.
Vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Tòa án thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 5, khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51 và các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Võ Thị Bé T về việc ly hôn với bị đơn anh Trần Tuấn K.
Về con chung: Giao con chung Trần Gia B, sinh ngày 27/11/2021 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng. Anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.725.000đ (một triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng) đến khi con chung đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày 25/6/2025, anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Võ Thị Bích T có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng án phí ly hôn. Buộc anh Trần Tuấn K có nghĩa vụ nộp 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quyền yêu cầu của đương sự: Nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Trường hợp này là vụ án tranh chấp ly hôn và con chung do bị đơn anh Trần Tuấn K có địa chỉ tại ấp HT, xã XH, huyện TO, tỉnh Vĩnh Long, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TO.
[ 1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Võ Thị Bé T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Trần Tuấn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn vắng mặt không lý do. Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo luật định.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Võ Thị Bé T và bị đơn anh Trần Tuấn K thành hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 10/9/2025 tại Ủy ban nhân dân xã XH, huyện TO trên cơ sở tự nguyện nên quan hệ hôn nhân của anh, chị là hợp pháp.
Xét trong quá trình chung sống lúc đầu vợ chồng sống hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẩn do không hợp nhau. Nay nguyên đơn xác định tình cảm vợ chồng không còn và yêu cầu được ly hôn cùng bị đơn, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã triệu tập bị đơn đến tham gia phiên họp, hòa giải và xét xử nhiều lần nhưng bị đơn không đến nên Tòa án không tiến hành hòa giải được, từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn được ly hôn cùng bị đơn là phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Chị Võ Thị Bé T và anh Trần Tuấn K có 01 con chung tên Trần Gia B sinh ngày 27/11/2021 đang sống với chị T. Nay chị T yêu cầu được nuôi con chung tên Trần Gia B là có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ theo lời trình bày của chị T từ khi chị và anh K không còn chung sống thì cháu B sống trực tiếp với chị, việc nuôi con của chị T cũng đảm bảo về điều kiện nuôi con. Nên cần tiếp tục giao con chung tên Trần Gia B, sinh ngày 27/11/2025 cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại các điều 81, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét về cấp dưỡng nuôi con, đây là quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con. Trong quá trình giải quyết vụ án chị T yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật và thời gian cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm. Mặt khác trong quá trình giải quyết vụ án anh K không có ý kiến hay văn bản nào về việc chị T yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Nên buộc anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Trần Gia B, sinh ngày 27/11/2021 mỗi tháng 1.725.000đ đến khi con chung đủ 18 tuổi và thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 25/6/2025 là có cơ sở chấp nhận và phù hợp theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.
[ 2.3] Về tài sản chung và nợ chung: chị Võ Thị Bé T không yêu cầu và anh Trần Tuấn K không có văn bản trình bày ý kiến của mình nên Tòa án không có căn cứ xem xét giải quyết.
[ 2.4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TO là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát như nhận định trên.
[2.5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tóa án. Buộc chị T có nghĩa vụ nộp 300.000đ, án phí ly hôn, buộc anh Trần Tuấn K nộp 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 5, khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51 và các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tóa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Võ Thị Bé T. Xử cho chị Võ Thị Bé T được ly hôn với anh Trần Tuấn K.
2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Gia B, sinh ngày 27/11/2021 cho chị Võ Thị Bé T tiếp tục nuôi dưỡng, anh Trần Tuấn K có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Trần Gia B, sinh ngày 27/11/2021 mỗi tháng là 1.725.000đ (Một triệu bảy trăm hai mươi lăm ngàn đồng) đến khi cháu B đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày 25/6/2025, anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: chị Võ Thị Bé T không yêu cầu Tòa án giải quyết anh Trần Tuấn K không có văn bản yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Võ Thị Bé T có nghĩa vụ nộp 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình. Trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu số 0012091 ngày 03 tháng 4 năm 2025, chị T đã nộp đủ án phí.
Buộc anh Trần Tuấn K có nghĩa vụ nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
Án xử công khai sơ thẩm báo cho chị T, anh K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trần Hoàng Phú |
Bản án số 85/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp ly hôn và con chung
- Số bản án: 85/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn và con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Thị Bích T và Trần Tuấn K
