TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 85/2025/HNGĐ - ST Ngày: 23 - 6 - 2025. V/v ly hôn giữa chị Minh và anh Tấp. | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hùng Phương.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Đức Chạc.
- Bà Dương Thị Vui.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thế Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 141/2024/TLST - HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024. Về tranh chấp xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2025/QĐST – HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Ngô Thị M – Sinh năm 1991;
Địa chỉ: Xóm K, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T – Sinh năm 1987;
Địa chỉ: Xóm K, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa có mặt chị M, vắng mặt anh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Ngô Thị M trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn T vào tháng 01/2014 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, anh T không có trách nhiệm với gia đình. Mặc dù chị đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh T vẫn không thay đổi dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đến tháng 6/2022 vợ chồng chị sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm giữa chị và anh T không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: Chị Ngô Thị Minh xác Đ giữa chị và anh T một con chung là cháu Nguyễn Lâm H, sinh ngày 02/7/2015 (Hiện cháu H đang do chị chăm sóc nuôi dưỡng). Ly hôn chị xin nhận trực tiếp nuôi cháu H và không yêu cầu anh T phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung: Chị Ngô Thị M không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí chị Ngô Thị M đề nghị giải quyết theo quy định.
Tại phiên toà hôm nay bị đơn anh Nguyễn Văn T vắng mặt không có lý do nhưng lời khai của anh T tại các buổi làm việc với Tòa án thể hiện: Anh kết hôn với chị M vào tháng 01/2014 kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Đến tháng 4/2024 thì vợ chồng anh sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Nay chị M xin ly hôn anh thì anh không nhất trí ly hôn vì anh vẫn còn tình cảm với chị M.
Về con chung: Anh Nguyễn Văn T xác định giữa anh và chị M có một con chung là cháu Nguyễn Lâm H, sinh ngày 02/7/2015 (Hiện cháu H đang do chị M chăm sóc nuôi dưỡng). Ly hôn anh xin nhận trực tiếp nuôi cháu H và không yêu cầu chị M phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.
Về tài sản chung: Anh Nguyễn Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án cháu Nguyễn Lâm H trình bày: Bố mẹ ly hôn cháu X ở với mẹ.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
- + Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Xử ly hôn giữa chị Ngô Thị M và chị Nguyễn Văn T; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Lâm H, sinh ngày 02/7/2015 cho chị Ngô Thị M trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị M; Về án phí dân sự sơ thẩm: chị M phải nộp theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Văn T vắng mặt không có lý do nhưng anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và vắng mặt là lần thứ hai. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T là phù hợp với khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Ngô Thị M và anh Nguyễn Văn T vào tháng 01 năm 2014 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng chị M anh T chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chống bất đồng về quan điểm, không hòa hợp trong hôn nhân. Vợ chồng chị M anh T sống ly thân từ tháng 4/2024 cho đến nay. Nay chị Minh xác Đ tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng giải quyết vợ chồng được ly hôn. Phía anh T không nhất trí ly hôn vì anh vẫn còn tình cảm với chị M. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có quan điểm xử ly hôn giữa chị M và anh T.
Hội đồng xét xử thấy: Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị M và anh T đã kéo dài và ngày một trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, nay chị M xin ly hôn anh T nên chấp nhận là phù hợp. Phía anh T không nhất trí ly hôn vì anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nhưng trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã hòa giải và tạo điều kiện cho hai bên hòa giải nhưng đến nay chị M anh T vẫn sống ly thân nhau, không ai quan tâm đến ai. Thấy khả năng đoàn tụ là không còn nên không được chấp nhận.
[3] Về con chung: Chị Ngô Thị M và anh Nguyễn Văn T đều thống nhất xác định vợ chồng có một con chung là Nguyễn Lâm H, sinh ngày 02/7/2015 (Hiện cháu H đang do chị M chăm sóc nuôi dưỡng). Ly hôn chị M xin nhận trực tiếp nuôi cháu H và không yêu cầu anh T phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Phía anh T cũng xin nhận trực tiếp nuôi cháu H và không yêu cầu chị M phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.
Hội đồng xét xử thấy: Nguyện vọng xin được nuôi con chung của chị M và anh T là chính đáng nhưng kể từ khi vợ chồng sống ly thân cháu H do chị M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và vẫn đảm bảo sự phát triển của cháu. Mặt khác cháu H có nguyện vọng muốn ở với chị M. Vì vậy giao cháu H cho chị M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chị M không yêu cầu anh T phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Thấy quan điểm của chị M là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên chấp nhận.
[4] Về tài sản chung: Chị Ngô Thị M và anh Nguyễn Văn T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm chị Ngô Thị M phải nộp theo quy định của pháp luật.
[6] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng là phù hợp.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;
- Xử ly hôn giữa chị Ngô Thị M và anh Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Xử giao con chung của vợ chồng là cháu Nguyễn Lâm H, sinh ngày 02/7/2015 cho chị Ngô Thị M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị M. Không ai được ngăn cản quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và thăm nom con chung.
- Án phí dân sự sơ thẩm chị Ngô Thị M phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị M đã nộp theo biên lai số 0001491 ngày 14/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng, chị M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho người có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Hùng Phương |
Bản án số 85/2025/HNGĐ - ST ngày 23/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn
- Số bản án: 85/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về việc ly hôn giữa chị M và anh T
