TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN Bản án số: 85/2025/HNGĐ-ST Ngày 14 tháng 11 năm 2025 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình" | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Doanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Ngọc Tân;
- Ông Nguyễn Gia Khải.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Vũ Minh Thành - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Công Huân - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 135/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 9 năm 2025 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73A/2025/QĐXX-ST ngày 21/10/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1988
- Nơi cư trú: Thôn Long Vỹ, xã Thanh Long, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên
- Nay là: Thôn Long Vỹ, xã Việt Yên, tỉnh Hưng Yên
- - Bị đơn: Anh Bùi Tất H, sinh năm 1995
- Nơi cư trú: Tổ G, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
- Nay là: Thôn A, xã P, tỉnh Hưng Yên.
- Hiện đang lao động tại Đài Loan.
(Chị Y có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ đã xuất trình thì nguyên đơn chị Nguyễn Thị Y có yêu cầu khởi kiện và trình bày tại đơn xin xét xử vắng mặt như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Tất H tự do, tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 03/5/2024 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên (nay là xã V, tỉnh Hưng Yên). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại tỉnh Hưng Yên và lao động tự do. Quá trình chung sống đến tháng 10/2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng ly thân từ tháng 10/2024 đến nay mỗi người sống một nơi.
Đến tháng 6/2025, anh H đi xuất khẩu lao động tại Đ đến nay chưa về. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hưng Yên giải quyết cho chị được ly hôn anh H.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung. Hiện tại chị Y không có thai nghén gì.
Về tài sản chung: Chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Bùi Tất H không nộp văn bản trình bày ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi đến Toà án.
Tại biên bản xác minh với ông Bùi Tất M là bố đẻ của anh H thể hiện: Chị Nguyễn Thị Y và anh Bùi Tất H là vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 03/5/2024 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên (nay là xã V, tỉnh Hưng Yên). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại Hưng Yên và lao động tự do, hiện tại anh H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Quá trình chung sống vợ chồng chị Y, anh H có phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống ly thân mỗi người sống một nơi. Nay chị Y có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Vợ chồng không có con chung. Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung.
Hiện anh H đi lao động xuất khẩu tại Đài Loan, ông không biết địa chỉ cụ thể của anh H tại Đài Loan. Hàng ngày anh H vẫn gọi điện thoại qua Z cho ông, ông có hỏi địa chỉ cụ thể của anh H, nhưng anh H không cung cấp địa chỉ cho ông. Ông M đã thông báo cho anh H biết việc chị Y xin ly hôn. Quan điểm của anh H là nhất trí ly hôn với chị Y. Về con chung: Vợ chồng không có con chung, vợ chồng không có tài sản chung. Anh H ủy quyền cho Ông M nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.
Tại biên bản xác minh với cơ sở thôn A, xã P, tỉnh Hưng Yên thể hiện:
Chị Nguyễn Thị Y và anh Bùi Tất H là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên (nay là xã V, tỉnh Hưng Yên) vào ngày 03/5/2024. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại tỉnh Hưng Yên và lao động tự do. Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn hay không cơ sở không nắm rõ, anh H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, địa chỉ cụ thể như thế nào cơ sở không nắm rõ, chị Y đã về Hưng Yên sinh sống, vợ chồng đã ly thân mỗi người sống một nơi. Nay chị Y có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị Y và anh H không có con chung. Về tài sản chung: Cơ sở không nắm rõ.
* Công văn số 971/XNC ngày 21/10/2025 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh H cung cấp: Anh Bùi Tất H xuất cảnh lần gần nhất ngày 17/6/2025, chưa có thông tin nhập cảnh vào Việt Nam.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Hưng Yên phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia tố tụng là thể hiện chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng dân sự. Về ý kiến giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án giải quyết theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Y: Xử cho chị Y được ly hôn anh H; chị Y phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị Nguyễn Thị Y và anh Bùi Tất H là tranh chấp hôn nhân và gia đình. Bị đơn có nơi cư trú cuối cùng trước khi đi xuất khẩu lao động là tại thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (Nay là: Thôn A, xã P, tỉnh Hưng Yên) hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài. Qua lời khai của chị Y, ông M (bố anh H) thì anh H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, Tòa án đã 02 lần yêu cầu ông M cung cấp địa chỉ của anh H nhưng ông M không cung cấp được. Như vậy, bị đơn anh H được xác định ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Tòa án đã yêu cầu người thân thích của anh H là ông M cung cấp địa chỉ nhưng không có kết quả, thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại Điều 10 (Giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ) Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyêt vụ việc về hôn nhân và gia đình thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh H như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa... nhưng anh H vắng mặt không có lý do, chị Y có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, xác minh về tình trạng hôn nhân, điều kiện nuôi dưỡng con chung và địa chỉ của bị đơn, vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân của chị Y, anh H được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên (nay là xã V, tỉnh Hưng Yên) vào ngày 03/5/2024 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn và chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2024 đến nay không quan tâm đến nhau. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, mặc dù biết được việc chị Y đề nghị ly hôn nhưng anh H cũng không có biện pháp nào để hàn gắn quan hệ hôn nhân, mỗi người sống một nơi. Như vậy, có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Y, anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Y, xử cho chị được ly hôn anh H là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị Y và anh Bùi Tất H không có con chung nên không đặt ra giải quyết.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Y, anh Bùi Tất H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Y phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyêt vụ việc về hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Bùi Tất H.
- Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị Y và anh Bùi Tất H không có con chung nên không đặt ra giải quyết.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Y phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị Y đã nộp theo Biên lai thu số 0001132 ngày 17/9/2025 của Phòng thi hành án dân sự Khu Vực 8, tỉnh Hưng Yên được chuyển thành tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Y có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án. Anh Bùi Tất H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Quốc Doanh |
Bản án số 85/2025/HNGĐ-ST ngày 14/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 85/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình chị Y và anh H
