TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 85/2025/HNGĐ-ST Ngày: 11-3-2025 “V/v: Ly hôn, nuôi con chung" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trọng; bà Nguyễn Thị Luận
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ly - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 16/2025/TBTL – HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/02/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/QĐST-HNGĐ ngày 27/02/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Tuyết A, sinh năm 2003 – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Nơi ĐKHKTT: Khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương;
Nơi ở hiện tại: Tổ E, khu phố Ô, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Anh Trần Văn C, sinh năm 1995 – Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện nhận ngày 26/12/2024, ý kiến tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – chị Trần Thị Tuyết A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn C tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 04/8/2023 tại UBND xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng chị hòa thuận hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn dẫn đến thường xuyên cãi vã; hai vợ chồng chị không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, về cách nuôi dạy con cái và bản thân chị bất đồng với các thành viên trong gia đình chồng. Mặc dù hai vợ chồng chị đã rất cố gắng, hai gia đình đã hòa giải nhưng vợ chồng chị vẫn không thể kiềm chế được nỗi bức xúc với nhau khi cùng chung sống. Do chị chỉ có một mình ở quê chồng nên đã không làm lớn chuyện mà chỉ âm thầm chịu đựng nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên từ ngày 12 tháng 5 năm 2024, chị và con là cháu Trần Hải Đ đã chuyển vào nhà ngoại (bố mẹ đẻ chị) ở thành phố T, tỉnh Bình Dương sinh sống. Vợ chồng chị sống ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng chị vẫn xảy ra tranh chấp về vấn đề nuôi con và chu cấp nuôi con, anh C không có trách nhiệm nuôi dưỡng con chung. Nay chị xét thấy mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C trong thời gian sớm nhất để chị ổn định cuộc sống, yên tâm nuôi con.
Về con chung: Chị và anh Trần Văn C có một con chung là cháu Trần Hải Đ, sinh ngày 16/11/2023. Cháu Đ ở với chị nhưng từ ngày 19/01/2025 chị đồng ý cho anh C đón con về quê ăn Tết cùng ông bà nội. Hiện tại cháu Đ đang ở cùng với bố và ông bà nội. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Hải Đ. Chị tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung.
Hiện tại chị đang làm nhân viên tại Công ty cổ phần Đ1 địa chỉ tại thành phố T, tỉnh Bình Dương với mức lương là 9.000.000 đồng/tháng. Chị đang ở cùng với bố mẹ đẻ nên việc chị nhận nuôi cháu Đ được bố mẹ hỗ trợ chăm sóc và tạo điều kiện cho nơi ở ổn định.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng chị đều xác định không có tài sản chung, công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn – Anh Trần Văn C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh đồng ý với ý kiến của chị Tuyết A về quá trình tìm hiểu, thời gian kết hôn. Từ tháng 5 năm 2024, thì chị Tuyết A cùng con trai là cháu Trần Hải Đ đã vào nhà ông bà ngoại ở tỉnh Bình Dương sinh sống. Từ khi chị Tuyết A chuyển vào nhà bố mẹ đẻ sống thì vợ chồng anh phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng anh sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị Tuyết A có đơn xin ly hôn với anh thì anh xác định vẫn còn tình cảm vợ chồng với chị Tuyết A, mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để cùng nuôi dạy con cái.
Về con chung: Anh và chị Tuyết A có một con chung là Trần Hải Đ, sinh ngày 16/11/2023. Hiện tại cháu Đ đang ở cùng với anh và ông bà nội từ dịp Tết Nguyên đán năm 2025. Trường hợp hai vợ chồng anh phải ly hôn, không thể về đoàn tụ được thì anh cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hải Đ. Anh tự nguyện không yêu cầu chị Tuyết A cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: Không có.
Bà Trần Thị K- mẹ đẻ anh C trình bày: Vợ chồng anh C và chị Tuyết A sống cùng vợ chồng bà; vợ chồng anh C chung sống hạnh phúc đến khoảng giữa năm 2024 thì chị Tuyết A xin gia đình bà đưa con vào nhà bố mẹ đẻ ở Bình Dương để đi học tiếp; đến cuối năm 2024 thì chị Tuyết A gọi điện về trao đổi nội dung xin ly hôn anh C do anh C không chu cấp được cuộc sống cho vợ con. Gia đình bà đã khuyên bảo nhưng chị Tuyết A vẫn kiên quyết xin ly hôn nên bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Bà có nguyện vọng giao cháu Trần Hải Đ cho anh C nuôi và ông bà hỗ trợ việc nuôi dưỡng, hiện anh C đang làm công nhân tại Công ty CĐ1.
Tại Biên bản xác minh UBND xã T cung cấp: Anh C và chị Tuyết A có đăng ký kết hôn tự nguyện tại UBND xã ngày 04/8/2023, quá trình chung sống thì vợ chồng anh C mâu thuẫn hay không thì chính quyền địa phương không rõ nhưng qua nắm bắt thông tin từ gia đình anh C thì chị Tuyết A và anh C đang sống ly thân, chị Tuyết A đã vào Bình Dương sinh sống từ giữa năm 2024 đến nay.
Tại Đơn xin hỗ trợ nuôi cháu của bà Đỗ Nhật L và ông Trần Công C1– bố mẹ chị Tuyết A có xác nhận: Chị Tuyết A và anh C đã sống ly thân từ tháng 5/2024, gia đình hai bên đã khuyên giải nhưng chị Tuyết A và anh C không về đoàn tụ được. Nay ông C1, bà L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Tuyết A ly hôn anh C và giao con cho chị Tuyết A trực tiếp nuôi dưỡng. Vợ chồng ông bà sẽ tạo điều kiện về chỗ ở và sinh hoạt cho hai mẹ con chị Tuyết A.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
- + Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử, Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ và đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ. Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
- + Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị cho chị Tuyết A được ly hôn anh C. Về con chung: Đề nghị giao con chung – Trần Hải Đ, sinh ngày 16/11/2023 cho chị Tuyết A nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Tuyết A không đề nghị cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề nghị xem xét. Chị Tuyết A phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
[1.1.] Về thẩm quyền: Chị Trần Thị Tuyết A có đơn khởi kiện đối với anh Trần Văn C về việc xin ly hôn, nuôi con khi ly hôn nên xác định đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về "Ly hôn, nuôi con chung" thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn – Anh C có hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội, nên Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Về sự vắng mặt của Nguyên đơn – Chị Trần Thị Tuyết A: Do chị Tuyết A có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị Tuyết A.
[1.3]. Về sự vắng mặt của Bị đơn – Anh Trần Văn C: Do anh C vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt anh C.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Tuyết A và anh Trần Văn C tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 04/8/2023 tại UBND xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội, tuân thủ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp.
Chị Tuyết A xin ly hôn anh C với lý do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, đã xảy ra nhiều mâu thuẫn không hoà giải được dẫn đến sống ly thân, chị Tuyết A đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở tỉnh Bình Dương sinh sống từ giữa năm 2024. Vợ chồng không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc, hỏi han gì đến nhau nữa. Trước yêu cầu xin ly hôn của chị Tuyết A thì anh C mong muốn vợ chồng đoàn tụ nuôi dạy con chung nhưng anh C cũng không có biện pháp hàn gắn tình cảm, dẫn đến hai bên vẫn đang sống ly thân, chị Tuyết A vẫn giữ nguyên quan điểm kiên quyết xin ly hôn vì xác định tình trạng mâu thuẫn trầm trọng không có khả năng đoàn tụ. Xét thấy tình trạng hôn nhân của chị Tuyết A và anh C đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xử cho chị Tuyết A được ly hôn với anh C là phù hợp với quy định của pháp luật.
[2.2] Về con chung: Chị Tuyết A và anh C xác nhận có 01 con chung là cháu Trần Hải Đ, sinh ngày 16/11/2023, tính đến ngày xét xử cháu Đ được 15 tháng 23 ngày. Chị Tuyết A và anh C đều có nguyện vọng được nuôi con chung. Từ trước đến nay chị Tuyết A là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đ, đảm bảo đầy đủ các điều kiện nuôi con. Bố mẹ của chị Tuyết A có đơn xác nhận hỗ trợ về chỗ ở và chăm sóc cháu Hải Đ cho chị Tuyết A. Chị Tuyết A hiện có công việc ổn định, có hợp đồng lao động là các điều kiện đảm bảo điều kiện chăm sóc con chung.
Tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.
Căn cứ khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nói trên, Hội đồng xét xử giao cháu Trần Hải Đ cho chị Tuyết A được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
Anh C có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Tuyết A không đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh C cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có thay đổi khác.
[2.4] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Tuyết A và anh C đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3] Về án phí: Chị Trần Thị Tuyết A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Xử:
- Chị Trần Thị Tuyết A được ly hôn với anh Trần Văn C.
- Về con chung: Chị Trần Thị Tuyết A và anh Trần Văn C có một con chung là cháu Trần Hải Đ, sinh ngày 16/11/2023.
Giao cháu Trần Hải Đ cho chị Trần Thị Tuyết A được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
Anh Trần Văn C có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Tuyết A không đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh C cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có thay đổi khác.
- Về án phí: Chị Trần Thị Tuyết A phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn; được đối trừ với 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo “Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án” số 0062195 ngày 02/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ.
Án xử công khai sơ thẩm, Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 85/2025/HNGĐ-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 85/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị A được ly hôn với anh C và giao con chung cho chị A nuôi dưỡng
