Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 85/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 05 – 3 – 2025

“V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Lam;
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Xuân Thành;
Bà Bùi Thị Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Thái - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 529/2024/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1996; địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm V, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An (Đề nghị xét xử vắng mặt).
  • - Bị đơn: Anh Trần Đình G, sinh năm 1991; địa chỉ: Xóm V, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An (Đề nghị xét xử vắng mặt).
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Đình T, sinh năm 1964; địa chỉ: Xóm V, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An (Đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:

Chị và anh Trần Đình G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 22 tháng 9 năm 2016. Sau khi chung sống được một thời gian, giữa hai người bất đồng quan điểm, phát sinh mâu thuẫn. Anh G đã xuất cảnh sang Đài Loan từ cuối năm 2017, từ đó anh ấy không còn liên lạc với chị. Hiện nay chị đã xuất cảnh đến Đài Loan và tình cảm giữa chị và anh G không cũng không cải thiện được nên yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Đình G.

Về con chung: Chị và anh Trần Đình G có 01 con chung là cháu Trần Diệu L, sinh ngày 13/3/2017. Nay ly hôn nguyện vọng của chị là giao con chung cho anh G trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Như không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Biên bản lấy lời khai bị đơn anh Trần Đình G trình bày:

Trong quá trình giải quyết vụ án anh Trần Đình G nhập cảnh vào Việt Nam và đã có lời khai tại Tòa án với nội dung: Về quan hệ hôn nhân và con chung đúng như nguyên đơn trình bày. Năm 2017 anh xuất cảnh đến Đài Loan được một năm thì chị N cũng xuất cảnh sang đó làm việc tuy ở cùng một quốc gia nhưng hai người sống và làm việc cách xa nhau không quan tâm lẫn nhau dẫn đến mâu thuẩn. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh hoàn toàn đồng ý ly hôn với chị N, tự nguyện nhận trách nhiệm là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung không yêu cầu chị N thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của cháu Trần Diệu L sinh ngày 13/3/2017:

Cháu là con chung của nguyên đơn và bị đơn, hiện nay bố mẹ của cháu đang lao động ở nước ngoài nếu hai người ly hôn thì cháu chọn bị đơn là người trực tiếp nuôi dưỡng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên ông Trần Đình T trình bày:

Ông có quan hệ với bị đơn là bố đẻ, quan hệ hôn nhân, con chung giữa nguyên đơn và bị đơn đúng như hai người trình bày. Trong thời gian anh G và chị N ở nước ngoài ông có công chăm sóc nuôi dưỡng con chung của họ là cháu Trần Diệu L, nay nguyên đơn bị đơn ly hôn ông không yêu cầu công sức nuôi dưỡng cháu L.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Tố tụng:

Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký đã ban hành các quyết định và thực hiện đầy đủ các trình tự theo quy định của pháp luật, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng.

Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71, 77 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, vì vậy vụ án được xét xử theo thủ tục chung.

Nội dung: Xét thấy chị Nguyễn Thị N và anh Trần Đình G là những người đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An được cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 22 tháng 9 năm 2016 không vi phạm điều cấm của luật nên hôn nhân là hợp pháp. Chị N và anh G đã bất đồng quan điểm, không quan tâm lẫn nhau điều này cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Trần Đình G.

Con chung: Chị N và anh G có 01 con chung là Trần Diệu L, sinh ngày 13/3/2017. Sau khi chị N đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, nguyện vọng sau khi ly hôn của chị N là giao con chung cho anh G chăm sóc nuôi dưỡng. Hiện nay G đã trở về nước, anh đồng ý ly hôn với chị N và có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc con chung và không yêu cầu chị N cấp dưỡng. Vì vậy đề nghị giao con chung cho anh G trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

Án phí: Buộc chị Nguyễn Thị N phải chịu nghĩa vụ án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Thẩm quyền giải quyết vụ án: Sau khi khởi kiện nguyên đơn chị Nguyễn Thị N đã xuất cảnh, hiện nay chị đang sinh sống và làm việc tại Đ -Đài Loan. Bản tự khai đề ngày 10/01/2025 của nguyên đơn có xác nhận của văn phòng K tại Đ. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

  2. Sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng về việc mở các phiên họp, phiên tòa, nhưng họ đều đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiếp tục duy trì phiên tòa để xét xử vụ án.

  3. Nội dung vụ án: Đánh giá lời khai của các đương sự và các tài liệu có tại hồ sơ Hội đồng xét xử có căn cứ để khẳng định:

    • [3.1]. Quan hệ hôn nhân:

      Tại thời điểm kết hôn chị N và anh G đủ điều kiện kết hôn theo luật định, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 22/9/2016 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Nguyên đơn, bị đơn xuất cảnh ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, nay bị đơn đã nhập cảnh, nguyên đơn đang ở nước sở tại, hai người đã phát sinh mâu thuẫn dẫn đến không quan tâm lẫn nhau cho thấy nguyên đơn và bị đơn đã vi phạm vào khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Nay, xét thấy giữa hai người không còn tình cảm với nhau, xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Trần Đình G theo quy định tại các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình như đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ.

    • [3.2]. Con chung: Cháu Trần Diệu L là con chung của nguyên đơn và bị đơn, hiện nay nguyên đơn đang sinh sống, lao động ở nước ngoài. Xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái quy định pháp luật và đạo đức xã hội, phù hợp với hoàn cảnh thực tế, ý chí nguyện vọng của cháu L. Nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con chung nên cần chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên giao con chung nói trên cho anh Trần Đình G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không xem xét nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

    • [3.3] Tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    • [3.4] Trong thời gian nguyên đơn và bị đơn lao động ở nước ngoài ông Trần Đình T là người có công sức nuôi dưỡng chăm sóc con chung của họ, nhưng nay ông T không yêu cầu công sức đó nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  4. Án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu nghĩa vụ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 19; Các Điều 51, 56, 58, 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 207, Điều 147; khoản 1 Điều 228, Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N được ly hôn bị đơn anh Trần Đình G.

  2. Về con chung: Giao con chung là Trần Diệu L, sinh ngày 13/3/2017 cho anh Trần Đình G trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành.

    Chị Nguyễn Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở, không được lạm dụng việc thăm nom con chung để gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Nếu ai vi phạm thì có quyền được yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung.

    Sau khi ly hôn, vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con bằng một vụ án dân sự độc lập khác.

  3. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung và công sức nuôi dưỡng cháu Trần Diệu L của ông Trần Đình T trong thời gian nguyên đơn và bị đơn lao động ở nước ngoài : Hội đồng xét xử không xem xét.

  4. Án phí: Buộc chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013511 ngày 14/11/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

  5. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Trung Phúc Cường;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Văn Lam
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Xuân Thành
Bùi Thị Hoa
Trần Văn Lam
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2025/HNGĐ-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 85/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger