|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 85/2025/DSST Ngày 23/5/2025 V/v Tranh chấp đòi tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM
* Thành phần hội đồng xét xử gồm có:
- - Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thắng
- Bà Vũ Thị Kim Thanh
- - Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội: Bà Phong Thị Lan –Kiểm sát viên
Trong ngày 22 và 23 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 231/2024/TLST- DS ngày 10 tháng 12 năm 2024 về: “Tranh chấp đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXX-DS ngày 05 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Ông Phạm Thành C, sinh năm: 1982
HKTT: Số 45 Cầu Đất, phường Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
Nơi ở: Số 24 Nguyễn Ư Dĩ, phường Thảo Điền, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Gia T theo giấy ủy quyền số 005034 ngày 19/11/2024.
Địa chỉ: P nhà C khu tập thể T, Phường T, quận T, thành phố Hà Nội.
* Bị đơn: Ông Lê Hoàng A, sinh năm: 1976
HKTT: Phòng 303 /B1 ngách H L, Phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ: P B Chung cư G P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội
Địa chỉ liên lạc: Số D phố D, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng.
( Ông C, ông T và ông Hoàng A có mặt tại phiên Tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
1
* Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn: Ông Phạm Thành C và người đại diện theo ủy quyền của ông C là ông Nguyễn Gia T trình bày:
Ông Phạm Thành C và ông Lê Hoàng A có quan hệ là họ hàng với nhau. Ông Hoàng A có tâm sự với ông C là cần tiền làm ăn, phải mượn tiền bên ngoài với lãi suất cao nên nhờ ông C hỗ trợ cho vay tiền. Do vậy ngày 11/01/2018, ông C đã cho ông Lê Hoàng A vay số tiền 185.000.000 đồng, hình thức cho vay là chuyển khoản từ tài khoản cá nhân của ông C tại Ngân hàng TMCP V (V1) – số tài khoản 64458736 – Phạm Thành C, theo bút toán chuyển khoản: FT1811BI2B00243 đến số tài khoản cá nhân của ông Lê Hoàng A tại Ngân hàng B1. Sau khi chuyển khoản, vì là chỗ thân quen họ hàng tin tưởng nên ông C không lập giấy tờ vay nợ. Hai bên thỏa thuận miệng với nhau về lãi suất theo quy định của Bộ Luật Dân sự 2015 là tối đa không quá 20%/năm;
Đến ngày trả nợ gốc lãi, ông Lê Hoàng A không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và liên tục né tránh kéo dài thời gian, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Ông C đã liên lạc với ông Hoàng A nhiều lần nhưng không liên lạc được. Sau đó ông C đã tố cáo ông Hoàng A ra Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận B. Quá trình giải quyết, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B đã ra thông báo không khởi tố vụ án do đây là giao dịch Dân sự nên ông C đã khởi kiện ra Tòa án.
- Ngoài ra năm 2012, ông Lê Hoàng A có nhờ ông Phạm Thành C làm giấy tờ nhà cho căn nhà tại địa chỉ: P, ngách H, L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Thù lao là 0 đồng, tiền phí dịch vụ chi phí bên ngoài hết 50.000.000 đồng, số tiền trên ông Phạm Thành C bỏ ra thanh toán. Đến năm 2016 ông Lê Hoàng A mới thanh toán được 30.000.000 đồng, và còn nợ lại 20.000.000 đồng.
Ông Phạm Thành C yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Lê Hoàng A thanh toán cho ông Phạm Thành C với tổng số tiền nợ tính đến hết ngày 22/08/2024 là: 433,311,111 đồng, bao gồm: số tiền nợ gốc là 185,000,000 đồng, số tiền nợ lãi là 248,311,111 đồng.
- Buộc ông Lê Hoàng A thanh toán cho ông Phạm Thành C phí dịch vụ làm giấy tờ nhà còn thiếu là 20.000.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn sửa đổi về lãi suất áp dụng đối với khoản tiền nợ gốc 185 triệu đồng theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ Luật Dân sự (lãi suất là 10%/ năm), đồng thời đưa ra phương án hòa giải và được bị đơn đồng ý là: Chậm nhất là ngày 03/9/2025, ông Lê Hoàng A phải thanh toán trả cho ông Phạm Thành C toàn bộ số tiền nợ gốc: 205.000.000 đồng, tuy nhiên trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành nguyên đơn thay đổi quan điểm và cho rằng việc thỏa thuận này của bị đơn chỉ là để bị đơn cố tình chây ì không trả nợ, nên nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đưa phương án hòa giải khác là: Nguyên đơn chỉ chấp nhận hòa giải nếu bị
2
đơn thanh toán trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi trong vòng 6 tháng, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành và mỗi bên sẽ chịu 1/2 án phí Dân sự sơ thẩm. Số tiền nợ gốc 20.000.000 đồng nguyên đơn không yêu cầu tính lãi. Do bị đơn không đồng ý phương án hòa giải mà nguyên đơn đưa ra nên nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Lê Hoàng A phải thanh toán trả cho ông Phạm Thành C tổng số tiền nợ gốc là 205.000.000 đồng, bao gồm: 20.000.000 đồng ông Hoàng A nợ năm 2012 và 185.000.000 đồng ông Hoàng A vay ngày 11/01/2018.
- Buộc ông Lê Hoàng A phải thanh toán trả cho ông Phạm Thành C số tiền lãi của khoản tiền nợ gốc 185.000.000 đồng từ ngày vay ( ngày 11/01/2018) cho đến phiên Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
* Tại phiên tòa: Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết những yêu cầu sau:
- Buộc bị đơn: Ông Lê Hoàng A phải thanh toán trả cho ông Phạm Thành C tổng số tiền nợ gốc là 205.000.000 đồng, bao gồm: 20.000.000 đồng ông Hoàng A nợ năm 2012 và 185.000.000 đồng ông Hoàng A vay ngày 11/01/2018.
- Buộc ông Lê Hoàng A phải thanh toán trả cho ông Phạm Thành C số tiền lãi của khoản tiền nợ gốc 185.000.000 đồng từ ngày vay (ngày 11/01/2018) cho đến phiên Tòa xét xử sơ thẩm ( ngày 22/5/2025). Nguyên đơn tạm tính là: 185.000.000 đồng x10%/ năm x 07 năm 6 tháng 11 ngày = 136.345.000 đồng. Tổng cả gốc và lãi là: 341.345.000 đồng .
- Nguyên đơn khẳng định số tiền 185.000.000 đồng nguyên đơn chuyển khoản cho bị đơn ngày 11/01/2018 là để cho bị đơn vay lấy tiền kinh doanh. Vì là chỗ quan hệ gia đình họ hàng nên nguyên đơn chỉ thỏa thuận miệng chứ không làm giấy tờ vay, hai bên thỏa thuận miệng về thời gian vay là vài ba tháng, lãi suất vay hai bên không thỏa thuận cụ thể. Từ thời điểm cho vay đến nay bị đơn chưa trả lãi cho nguyên đơn đồng nào.
-Việc bị đơn nói rằng số tiền 185.000.000 đồng đó là tiền nguyên đơn góp vốn làm ăn chung với bị đơn là không đúng. Thực tế nguyên đơn chưa bao giờ nghe bị đơn nói về việc bị đơn rủ nguyên đơn đầu tư kinh doanh chung với người tên là Lê Văn T1, cũng không biết giao dịch giữa bị đơn và người này thế nào. Sau khi cho bị đơn vay tiền khoảng hơn 01 tháng thì nguyên đơn có hỏi bị đơn về việc kinh doanh thì bị đơn nói hàng hóa bị đơn kinh doanh chung bị Hải quan giữ. Mặc dù bị đơn nói như vậy nhưng nguyên đơn lại nghe thông tin qua gia đình bị đơn nói với họ hàng là bị đơn làm ăn kinh doanh lãi 100.000.000 đồng và gửi tiền về quê cho bố mẹ, nên bị đơn có liên lạc điện thoại hỏi bị đơn về việc kinh doanh, thì bị đơn nói người bị đơn chung tiền làm ăn đã lừa bị đơn và hiện đã trốn mất, bị đơn đang đi tìm để yêu cầu người này trả tiền.
-Việc bị đơn trình bày về thời điểm nguyên đơn bắt đầu đòi tiền của bị đơn từ tháng 6/2018 là không đúng vì: Mặc dù giữa 2 bên có thỏa thuận miệng về thời gian vay là vài
3
3 tháng, nhưng sau khi bị đơn nói hàng hóa bị chục chặc và bị người chung tiền kinh doanh cùng lừa, người này đã trốn mất, bị đơn đang đi tìm, nên nguyên đơn cũng cho bị đơn thời gian để giải quyết. Đến khoảng ngày 30/3/2020, nguyên đơn mới liên lạc điện thoại để yêu cầu bị đơn thu xếp trả tiền cho nguyên đơn, đồng thời nguyên đơn có gửi văn bản về nhà bị đơn và gửi cả về nhà bố mẹ của bị đơn ở Hải Phòng yêu cầu bị đơn thu xếp trả tiền cho nguyên đơn, nhưng bị đơn không có ý kiến phản hồi. Vì thời gian đã lâu nên nguyên đơn đã để thất lạc mất tài liệu này nên không xuất trình để chứng minh trước Tòa. Nguyên đơn cũng không nhớ chính xác thời gian yêu cầu bị đơn trả tiền trong văn bản là ngày tháng nào.
- Tiếp theo đó nguyên đơn không thể liên lạc điện thoại với ông Hoàng A và sau đó nghe nói ông Hoàng A đã bán nhà đi ở chỗ khác, không còn sống tại dịa chỉ: Phòng 1812-21 B Chung cư G P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội nữa. Ông Hoàng A cũng không về nhà bố mẹ đẻ ở Hải Phòng, nguyên đơn cũng không biết ông Hoàng A sinh sống ở đâu, nên đã tố cáo ông Hoàng A có hành vi lừa đảo ra cơ quan Công an Thành phố H và Viện Kiểm Sát nhân dân thành phố H. Sau khi tiếp nhận đơn Cơ quan Công an Thành phố H đã chuyển đơn về cho Công an quận B, thành phố Hà Nội giải quyết. Tuy nhiên nguyên đơn cũng không thấy cơ quan này gọi lên giải quyết mà ra thông báo giải quyết đơn xác định là giao dịch dân sự, hướng dẫn nguyên đơn khởi kiện ra Tòa án.
- Tại thời điểm nguyên đơn cho bị đơn vay tiền, nguyên đơn đã phải bán 5 cây vàng đi để lấy tiền cho bị đơn vay, và từ thời điểm đó cho đến nay nguyên đơn đã bị thiệt hại nhiều, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
* Trong bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn: Ông Lê Hoàng A trình bày:
-Ông Lê Hoàng A và ông Phạm Thành C có quan hệ họ hàng, cụ thể mẹ ông C là em gái ruột của bố ông. Khi mẹ ông C mất sớm, gia đình ông Hoàng A đã nuôi nấng ông C từ đó cho đến khi trưởng thành.
-Ông Lê Hoàng A xác nhận: Ông Phạm Thành C có chuyển khoản cho ông số tiền 185.000.000 đồng vào ngày 11/01/2018. Lý do và mục đích chuyển số tiền trên cho ông là do có 01 lần ông C công tác tại Hà Nội, anh em gặp nhau, ông Hoàng A có có kể với ông C về cơ hội kinh doanh lô hàng thực phẩm chức năng. Đối tác góp vốn của ông Hoàng A là ông Lê Văn T1 – Công ty cổ phần B2, đây là chỗ tin cậy và lãi suất cao, thấy vậy ông C đã đề nghị được góp vốn kinh doanh chung là 185.000.000 đồng. Sau khi nhận số tiền góp vốn này ông Hoàng A có nói nếu thành công sẽ trả tiền lãi của lô hàng cho ông C. Như vậy là ngay từ đầu ông C đã biết đây là việc góp vốn làm ăn nên lời ăn lỗ chịu, và bản chất sự việc là hợp tác góp vốn làm ăn chứ không phải là ông Hoàng A vay tiền của ông C để đầu tư làm ăn như ông Công trình B. Vì là chỗ gia đình họ hàng nên
4
khi hai bên hợp tác góp vốn làm ăn hai bên không làm Hợp đồng hay giấy tờ gì. Cả hai cùng thỏa thuận miệng về lãi sẽ chia sau khi có lợi nhuận.
Sau khi nhận chuyển khoản số tiền 185.000.000 đồng từ ông C, ông Hoàng A đã chuyển khoản số tiền 325.000.000 đồng (trong đó bao gồm tiền của ông C1 tiền của cá nhân ông Hoàng A) tới tài khoản của ông Lê Văn T1 mà không ký kết giấy tờ nào. Tuy nhiên, sau đó lô hàng bị ách tắc tại cảng H và không được thông quan, dẫn đến lô hàng đã bị hết hạn sử dụng. Sau khi hàng hóa gặp vấn đề, ông Hoàng A đã liên hệ với anh C để thông báo và hai bên có nói chuyện qua điện thoại, đồng thời ông Hoàng A đã yêu cầu ông T1 giải quyết nhưng ông T1 hiện đã bỏ trốn, không liên lạc được. Ông Hoàng A và ông C đều là nạn nhân của việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản do anh T1 gây ra nên ông sẽ nộp đơn tố giác ông T1 ra cơ quan công an.
Nguyên đơn xác định số tiền 185.000.000 đồng là tiền ông Hoàng A vay nợ là không đúng vì: Căn cứ điều 385, 399 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định về Hợp đồng dân sự cần có sự thỏa thuận về nội dung cụ thể, trong trường hợp này không có bất kỳ tài liệu nào xác định quan hệ vay tài sản giữa ông Hoàng A và ông C, cũng không có căn cứ xác lập nghĩa vụ dân sự riêng lẻ của ông Hoàng A theo quy định tại các Điều 288, điều 468 Bộ Luật Dân sự năm 2015. Mặt khác trong tài liệu sao kê ngân hàng do ông Phạm Thành C chuyển cho ông Hoàng A không có nội dung nào thể hiện việc ông C cho ông Hoàng A vay tiền hoặc ủy quyền đầu tư cho ông theo bất kỳ hình thức nào. Ông Hoàng A sẽ nộp bản sao kê ngân hàng về giao dịch giữa ông và anh Lê Quốc T2 cùng với bản xác nhận bằng email số tiền ông đã góp vốn với anh T2 để chứng minh ông không sử dụng số tiền của ông C vào mục đích cá nhân hoặc phi pháp. Sau buổi làm việc ngày 03/4/2025 tại Tòa án, về góc độ tình cảm gia đình thì dự kiến trong tháng 06 năm 2026 ông Hoàng A sẽ bán nhà để lấy tiền trả cho ông C, nhưng ông C phải xác nhận đây là số tiền góp vốn chứ không phải là tiền vay nợ.
-Ông Lê Hoàng A xác nhận có nợ ông C số tiền 20.000.000 đồng vào năm 2012 đúng như ông Công trình B, ông Lê Hoàng A sẽ hoàn trả số tiền này cho ông C sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
-Đối với yêu cầu tính lãi của khoản tiền 185.000.000 đồng thì bị đơn không đồng ý vì cả hai thỏa thuận về lãi đầu tư sau khi có lợi nhuận chứ không phải là lãi tiền vay.
-Ông Hoàng A xác nhận trước đây ông có ăn ở sinh sống thường xuyên tại địa chỉ: Phòng 1812-21 B Chung cư G P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội, tuy nhiên sau khi ly hôn vào năm 2021, ông Hoàng A chuyển đi nơi khác ở. Việc chuyển đi nơi khác ở, nguyên đơn không nắm được. Do tính chất công việc nên ông Hoàng A không cư trú ổn định tại địa chỉ cụ thể nào, nên việc nguyên đơn khởi kiện đối với ông ra Tòa án quận B,
5
thành phố Hà Nội, ông Hoàng A đồng ý để Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội giải quyết vụ án.
* Tại phiên tòa: Bị đơn vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày và xác nhận trách nhiệm sẽ trả cho nguyên đơn số tiền 205.000.000 đồng, bao gồm 185.000.000 đồng tiền nguyên đơn chuyển khoản vào ngày 11/01/2018 và 20.000.000 đồng tiền bị đơn nợ nguyên đơn từ năm 2012. Tuy nhiên số tiền 185.000.000 đồng này bị đơn xác nhận trách nhiệm sẽ trả cho nguyên đơn trên góc độ tình cảm gia đình. Nếu xét về góc độ hai bên hợp tác góp vốn làm ăn thì lời ăn lỗ chịu thì bị đơn không có nghĩa vụ phải trả.
- Bị đơn khẳng định thời điểm nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền 185.000.000 đồng từ tháng 6/2018 và sau đó có nhiều lần nguyên đơn gọi điện thoại cho bị đơn đòi tiền trong tình trạng say rượu và có lời lẽ xúc phạm danh dự của bị đơn, nên từ đó trở đi bị đơn không nghe máy điện thoại của nguyên đơn gọi đến.
- Bị đơn xác nhận thời điểm năm 2020, bị đơn có được bố mẹ mình thông báo về việc ông C gửi văn bản về nhà bố mẹ ông ở Hải Phòng, trong văn bản có lời lẽ xúc phạm gia đình bị đơn, làm cho bố mẹ của ông bức xúc. Chính vì vậy bị đơn cũng không xem, không nhận văn bản nên cũng không rõ nội dung thế nào và cũng không phản hồi lại ý kiến với nguyên đơn. Đến năm 2021, ông Hoàng A ly hôn và bán nhà đi. Do tính chất công việc nên ông Hoàng A không cư trú ổn định tại địa chỉ cụ thể nào, nhưng có để địa chỉ liên lạc về số nhà D phố D, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng là nhà của bố ,mẹ đẻ của ông Hoàng A. Hiện ông Hoàng A vẫn đang làm việc tại thành phố Hà Nội.
- Ông Hoàng A không đồng ý trả lãi đối với khoản tiền 185.000.000 đồng vì đây là khoản tiền ông C góp vốn cùng làm ăn kinh doanh. Ngoài số tiền này còn có tiền của bị đơn cùng đầu tư chuyển cho ông T2 đã bị ông T2 chiếm đoạt và bỏ trốn, do đó đã chung tiền làm ăn kinh doanh thì cùng lời ăn lỗ chịu. Do thời gian quá lâu nên bị đơn cũng không nhớ có nói với nguyên đơn về việc đầu tư kinh doanh với ông T2 hay không.
-Bị đơn cũng chưa bao giờ thấy cơ quan công an báo gọi lên làm việc, nên cũng không biết việc nguyên đơn tố cáo ra Cơ quan Công an.
- Bị đơn đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn do đã hết thời hiệu khởi kiện
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa và những người tham gia tố tụng:
* Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa sơ thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các bên đương sự đã được thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
6
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án:
Ông Phạm Thành C và ông Lê Hoàng A có quan hệ họ hàng với nhau. Ngày 11/01/2018, ông C chuyển khoản cho ông Hoàng A số tiền 185.000.000 đồng. Theo ông C đây là tiền ông C cho ông Hoàng A vay để làm ăn, còn ông Hoàng A xác định đây là tiền góp vốn. Quá trình giải quyết các đương sự không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh cho lời khai của mình. Tuy nhiên các bên xác nhận ông Hoàng A có nhận 185.000.000 đồng của ông C cho thấy có sự chuyển giao tài sản giữa các bên. Việc xác lập hợp đồng có thể bằng lời nói, văn bản hay hình thức nhất định do pháp luật quy định. Tại Điều 504 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định hợp đồng hợp tác phải được lập thành văn bản tuy nhiên giữa ông Hoàng A và ông C không có văn bản nào thể hiện giữa hai bên góp vốn hợp tác kinh doanh với nhau do đó không có cơ sở xác định số tiền 185.000.000 đồng ông C chuyển cho ông Hoàng A là tiền góp vốn hoặc nếu có cũng không được chấp nhận do vi phạm quy định về hình thức hợp đồng.
Đối với khoản tiền 20.000.000 đồng ông Hoàng A xác định đây là tiền nợ ông C nên sẽ chịu trách nhiệm trả ông C số tiền này.
Đối với yêu cầu tính lãi trên số tiền 185.000.000 đồng, xét thấy giữa các bên không xác định là việc vay tài sản hay góp vốn nhưng việc chiếm dụng không trả số tiền trên của ông Hoàng A đã gây thiệt hại đối với người cho vay nên yêu cầu tính lãi của nguyên đơn là có căn cứ.
Căn cứ Điều 116, 504, 280, 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện đòi khoản nợ gốc và nợ lãi của nguyên đơn.
- -Buộc ông Lê Hoàng A phải thanh toán cho ông Phạm Thành C số tiền 205.000.000 đồng nợ gốc và lãi suất 10% trên số tiền 185.000.000đồng tính từ ngày 11/01/2018 đến ngày xét xử - 22/5/2024 là 2688 ngày.
- 185.000.000đồng x 10%/365 x 2688 ngày = 136.241.096 đồng.
- Tổng số tiền ông Hoàng A phải thanh toán cho ông Phạm Thành C là 341.241.096 đồng
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật ông Hoàng A có nghĩa vụ thanh toán tiếp lãi suất 10% theo quy định của pháp luật.
* Về án phí Dân sự sơ thẩm:- Nguyên đơn không phải chịu án phí DSST; Bị đơn phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm là 17.062.000 đồng
- Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
7
* Về tố tụng:
- Ngày 10 tháng 12 năm 2024, Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã thụ lý vụ án Dân sự và xác định quan hệ pháp luật là: “Tranh chấp Đòi tài sản”. Bị đơn: ông Lê Hoàng A có địa chỉ thường trú: Phòng 1812-21 B Chung cư G P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội, đây là địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của bị đơn. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn cũng xác nhận trước đây bị đơn vẫn ăn ở sinh sống tại địa chỉ trên, tuy nhiên thời điểm năm 2021, bị đơn chuyển đi nơi khác ở, vì tính chất công việc nên bị đơn không cư trú ổn định tại địa chỉ cụ thể nào. Việc nguyên đơn khởi kiện đối với bị đơn ra Tòa án quận B, thành phố Hà Nội bị đơn đồng ý để Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội giải quyết vụ án. Do vậy việc thụ lý giải quyết là đúng theo thẩm quyền quy định tại khoản 3 điều 26, khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 40 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
* Về thời hiệu khởi kiện:
- Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp đòi tài sản là tiền cho vay, đây là tranh chấp yêu cầu bảo vệ quyền tài sản quyền sở hữu nên không áp dụng thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015 và điều 184 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Tại phiên Tòa bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn đối với khoản tiền nợ gốc. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 để xem xét giải quyết.
- Quá trình giải quyết vụ án, trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố, nên Tòa án không xem xét giải quyết.
* Về nội dung vụ án:
Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- -Buộc bị đơn: Ông Lê Hoàng A phải thanh toán trả cho nguyên đơn: Ông Phạm Thành C tổng số tiền nợ gốc là 205.000.000 đồng, bao gồm: 20.000.000 đồng ông Hoàng A nợ năm 2012 và 185.000.000 đồng ông Hoàng A vay ngày 11/01/2018.
- - Buộc ông Lê Hoàng A phải thanh toán trả cho ông Phạm Thành C số tiền lãi của khoản vay ngày 11/01/2018 từ ngày vay cho đến phiên Tòa xét xử sơ thẩm ( ngày 22/5/2025). Nguyên đơn tạm tính là: 185.000.000 đồng x10%/ năm x 07 năm 6 tháng 11 ngày = 136.345.000 đồng. Tổng cả gốc và lãi là: 341.345.000 đồng .
[1.].Xét yêu cầu đòi tiền nợ gốc của nguyên đơn
[1.1]. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ cho thấy: Cả nguyên đơn và bị đơn đều xác nhận ngày 11/01/2018, nguyên đơn đã chuyển khoản số tiền 185.000.000 đồng từ tài khoản cá nhân của nguyên đơn tại Ngân hàng V1 đến tài khoản cá nhân của
8
bị đơn tại Ngân hàng B1 theo bút toán chuyển khoản: FT1811BI2B00243. Nội dung chuyển khoản có ghi: “ Em C gửi tiền anh”. Ngoài ra hai bên cùng xác nhận số tiền gốc bị đơn còn nợ nguyên đơn từ năm 2012 là 20.000.000 đồng.
[1.2]. Theo nguyên đơn thì mục đích nguyên đơn chuyển khoản số tiền 185.000.000 đồng cho bị đơn là để cho bị đơn vay làm ăn kinh doanh. Do là chỗ họ hàng tin tưởng nên hai bên chỉ thỏa thuận miệng với nhau mà không làm thành giấy vay nợ, khi cho vay cả hai thỏa thuận thời gian vay khoảng vài tháng; về lãi suất cho vay hai bên không thỏa thuận cụ thể. Vì việc cho vay này là thỏa thuận miệng nên nguyên đơn cũng không có tài liệu chứng cứ chứng minh việc 2 bên giao kết với nhau.
[1.3]. Theo bị đơn thì số tiền nguyên đơn chuyển khoản cho bị đơn với mục đích hai bên hợp tác góp vốn làm ăn chứ không phải là tiền nguyên đơn cho bị đơn vay. Do là chỗ họ hàng tin tưởng nên hai bên không làm hợp đồng mà chỉ nói miệng và thỏa thuận với nhau lời ăn lỗ chịu. Việc Hợp tác góp vốn và thỏa thuận của 2 bên là thỏa thuận miệng nên bị đơn cũng không có tài liệu chứng cứ chứng minh việc 2 bên giao kết hợp tác góp vốn kinh doanh cùng với nhau.
[1.4]. Xét lời trình bày của bị đơn là không có căn cứ bởi:
Tại khoản 2 Điều 504 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“2. Hợp đồng hợp tác phải được lập thành văn bản”
Như vậy việc bị đơn cho rằng lý do nguyên đơn chuyển khoản số tiền 185.000.000 đồng cho bị đơn là nhằm mục đích hai bên hợp tác góp vốn cùng kinh doanh, nên lời ăn lỗ chịu thì về mặt hình thức của Hợp đồng này đã không phù hợp với quy định của pháp luật, nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[1.5]. Xét lời trình bày của nguyên đơn về việc hai bên giao kết thỏa thuận vay tiền là có thật và có căn cứ, mặc dù bị đơn không thừa nhận là giao dịch vay tiền, nhưng căn cứ vào lời trình bày của các bên đương sự tại phiên Tòa và tài liệu chứng cứ do nguyên đơn xuất trình thể hiện: Bị đơn xác nhận đã nhận số tiền 185.000.000 đồng do nguyên đơn chuyển khoản cho. Nguyên đơn cũng không chứng minh được việc hai bên có thỏa thuận miệng về thời gian cho vay và lãi suất vay, do vậy Hội đồng xét xử nhận định: Quan hệ giao dịch vay tài sản giữa nguyên đơn và bị đơn là loại Hợp đồng vay không kỳ hạn được quy định tại Điều 469 Bộ Luật Dân sự năm 2015.
Tại khoản 1 Điều 469 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“1. Đối với Hợp đồng vay vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”
Tại phiên Tòa, các bên đương sự đều khai về thời điểm nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền 185.000.000 đồng, nhưng đều không có tài liệu chứng cứ chứng minh. Tuy nhiên
9
lời khai của nguyên đơn và bị đơn phù hợp ở thời điểm năm 2020, có việc nguyên đơn gửi văn bản cho bị đơn về Hải phòng nơi bố, mẹ bị đơn ở cũng như lý do nguyên đơn không liên lạc, không biết thông tin nơi ở của bị đơn sau này và đó là lý do nguyên đơn làm đơn tố cáo bị đơn ra Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố H và Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H. Trong đơn tố cáo của nguyên đơn có nội dung tố cáo bị đơn vay muợn tiền bỏ trốn và có hành vi làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Ngày 03/7/ 2024, Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an quận B, thành phố Hà Nội đã có thông báo kết quả giải quyết đơn số 1686 với nội dung xác định là giao dịch dân sự, không thuộc thẩm quyền của cơ quan cảnh sát điều tra và hướng dẫn khởi kiện ra Tòa án. Như vậy có căn cứ để xác định việc nguyên đơn đòi số tiền nợ gốc 185.000.000 đồng đối với bị đơn đã được nguyên đơn thông báo trước cho bị đơn.
- Mặt khác tại phiên Tòa, bị đơn cũng đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu tính lãi của bị đơn tức là bị đơn cũng thừa nhận đó là khoản tiền vay nợ.
[1.6]. Ngoài số tiền nợ gốc 185.000.000 đồng ra các bên đương sự đều xác nhận khoản nợ của năm 2012 mà bị đơn còn nợ nguyên đơn là 20.000.000 đồng.
[1.7] Từ những phân tích trên có đủ căn cứ để xác định tổng số tiền nợ gốc mà bị đơn còn nợ nguyên đơn là: 205.000.000 đồng, trông đó: 20.000.000 đồng ông Hoàng A nợ năm 2012 và 185.000.000 đồng là ông Hoàng A vay ngày 11/01/2018. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đòi khoản tiền nợ gốc là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử thấy chấp nhận.
[2.].Xét yêu cầu đòi tiền lãi của nguyên đơn
[2.1]. Nguyên đơn yêu cầu tính lãi đối với khoản tiền nợ gốc là 185.000.000 đồng kể từ thời điểm vay là ngày 11/01/2018 cho đến ngày xét xử sơ thẩm theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ Luật Dân sự (lãi suất là 10%/ năm) là: 185.000.000 đồng x10%/ năm x 07 năm 6 tháng 11 ngày = 136.345.000 đồng. Tổng cả gốc và lãi là: 341.345.000 đồng .
- Đối với số tiền nợ gốc 20.000.000 đồng nguyên đơn không yêu cầu tính lãi.
[2.2]. Như đã phân tích ở trên, việc nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải thanh toán trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc 205.000.000 đồng là có căn cứ, do vậy bị đơn cũng phải có nghĩa vụ trả nợ lãi cho nguyên đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 280 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
-Khoản 2 Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“... Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác".
Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
10
“ 1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các đương sự nhưng không vượt quá mức quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật này. Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật này.”
Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên đơn áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 để tính lãi đối với số tiền nợ gốc là có căn cứ nên được chấp nhận.
[2.3]. Về thời gian tính lãi: Nguyên đơn yêu cầu tính lãi đối với khoản tiền nợ gốc 185.000.000 đồng kể từ thời điểm vay (ngày 11/01/2018) cho đến ngày xét xử sơ thẩm là không có căn cứ vì: Quan hệ giao dịch giữa các bên đương sự là Hợp đồng vay tài sản không có kỳ hạn, không có lãi theo quy định tại khoản 1 điều 469 Bộ Luật Dân sự năm 2015. Tại phiên Tòa các bên đương sự đều thừa nhận việc nguyên đơn đòi số tiền nợ gốc 185.000.000 đồng đối với bị đơn đã được nguyên đơn thông báo trước cho bị đơn, tuy nhiên các bên đương sự cũng không xuất trình được tài liệu chứng cứ chứng minh về thời điểm bị đơn phải trả tiền cho nguyên đơn, cả hai bên cũng không có sự thống nhất thỏa thuận về thời gian cụ thể trả tiền, nên việc nguyên đơn yêu cầu tính lãi từ thời điểm chuyển tiền cho bị đơn vay không phù hợp với luật định nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Trong trường hợp này, Hội đồng xét xử căn cứ theo hướng dẫn tại điểm a khoản 3 điều 6 Nghị quyết 01/2019/NQQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm có quy định về thời gian chậm trả gốc được tính từ ngày liên kề của ngày hết thời gian hợp lý đến thời điểm xét xử sơ thẩm nhưng không quá 03 tháng kể từ ngày thông báo. Qua lời trình bày của các bên đương sự thì việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền đã có sự thông báo trước, nhưng nguyên đơn cũng không chứng minh được khoảng thời gian nguyên đơn yêu cầu bị đơn hoàn trả gốc, các bên cũng không có sự thống nhất thỏa thuận về thời gian hợp lý để trả nợ. Tài liệu chứng cứ do nguyên đơn xuất trình thì ngày 30/5/2024, Cơ quan điều tra – Công an Thành phố H và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã tiếp nhận đơn tố cáo của nguyên đơn để giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử xác định thời gian để tính lãi chậm trả là từ ngày 30/5/2024. Cụ thể như sau: Từ ngày 30/5/2024 đến phiên Tòa xét xử sơ thẩm (ngày 22/5/2025) là 11 tháng 22 ngày
185.000.000 đồng x10%/ năm ( 0,028%) x 11 tháng 22 ngày ( 352 ngày)= 18.233.600 đồng.
[2.4]. Đối với số tiền nợ gốc 20.000.000 đồng nguyên đơn không yêu cầu tính lãi, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.5]. Như vậy tổng cả gốc và lãi buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn là: 18.233.600 đồng +205.000.000 đồng = 223.223.600 đồng .
11
[2.6]. Việc bị đơn yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu khởi kiện trả lãi của khoản tiền nợ gốc thì như đã phân tích đây là Hợp đồng vay không kỳ hạn và các bên không xác định được thởi điểm nào phải trả lãi nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[3]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, tuy nhiên về thời điểm tính lãi suất chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[4]. Về án phí Dân sự sơ thẩm:
- - Nguyên đơn phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu tính lãi không được Hội đồng xét xử chấp nhận là: 136.345.000 đồng - 18.233.600 đồng =118.111.400 đồng
- 118.111.400 đồng x5 %= 5.905.570 đồng, được trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp 11.070.000 đồng, nên được hoàn trả số tiền: 5.164.430 đồng
- - Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận: 11.161.180 đồng
[5]. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 3 điều 26, khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 40; Điều 147; Điều 184; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ khoản 2 Điều 155; Điều 166; Điều 280, Điều 357, khoản 1 Điều 469, Điều 504; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
-Nghị quyết 01/2019/NQQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao.
- Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Thành C đối với ông Lê Hoàng A về yêu cầu trả tiền nợ gốc.
Buộc ông Lê Hoàng A phải trả cho ông Phạm Thành C tổng số tiền gốc là: 205.000.000 đồng (Hai trăm linh lăm triệu đồng).
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Thành C đối với ông Lê Hoàng A về yêu cầu trả tiền nợ lãi.
Buộc ông Lê Hoàng A phải trả cho ông Phạm Thành C số tiền nợ lãi tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm ( ngày 22 /5/2025) là 18.233.600 đồng (Mười tám triệu, hai trăm ba mươi ba nghìn sáu trăm đồng )
Tổng số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22 /5/2025) là: 223.223.600 đồng (Hai trăm hai mươi ba triệu, hai trăm hai mươi ba nghìn sáu trăm đồng).
3.Kể từ ngày ông Phạm Thành C có đơn yêu cầu thi hành án mà ông Lê Hoàng A chưa thi hành thì hàng tháng ông Lê Hoàng A còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành.
4. Về án phí Dân sự sơ thẩm:
- - Ông Phạm Thành C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.905.570 đồng ( Năm triệu chín trăm linh lăm nghìn lăm trăm bảy mươi đồng), được trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp 11.070.000 đồng (Mười một triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng) theo biên lai số: 0075457 ngày 10/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, nên được hoàn trả số tiền: 5.164.430 đồng( Năm triệu một trăm sáu tư nghìn bốn trăm ba mươi đồng)
- - Ông Lê Hoàng A phải chịu án phí sơ thẩm là: 11.161.180 đồng. (Mười một triệu một trăm sáu mươi mốt nghìn một trăm tám mươi đồng)
5. Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
6. Quyền kháng cáo:
Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
13
| Các Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
| Nguyễn Thị Thu Trang |
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Trang |
14
15
Bản án số 85/2025/DSST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: 85/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về yêu cầu trả tiền nợ gốc
