Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 85/2025/DS-ST

Ngày: 10 – 3 – 2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay, hụi”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Đoan

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hồ Quang Minh
  2. Ông Nguyễn Minh Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 835/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay, hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1971.

Địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Ngọc H, sinh năm 1971 (văn bản ủy quyền ngày 12/11/2024, có mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn A, sinh năm: 1942 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Trung T (vắng mặt).
  2. Chị Nguyễn Thị T1 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 26/8/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Huỳnh Ngọc H trình bày: Trước đây vào khoảng năm 2023, ông A, vợ chồng anh T, chị T1 là con ruột và con dâu của ông A có tham gia chơi hụi do bà N làm chủ hụi và vay vàng của bà N để về phục vụ cuộc sống gia đình, sửa nhà, chuộc đất. Sau khi hốt hụi thì không đóng hụi chết cho bà N. Bà N có đến nhà và yêu cầu trả tiền thì ông A hứa sẽ đứng ra thanh toán tổng số tiền là 794.500.000 đồng và 18 chỉ vàng 24 kara. Ngày 23/4/2024 chính quyền địa phương có tổ chức hòa giải và ông A có hứa sẽ thanh toán và đã trả được 13.500.000 đồng và không tiếp tục trả cho bà N theo thỏa thuận. Nay bà N yêu cầu ông A, anh T, chị T1 cùng có trách nhiệm trả số tiền 781.000.000 đồng và 18 chỉ vàng 24 kara, ngoài ra bà N không yêu cầu gì khác.

* Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn A trình bày: Ông xác định thời gian trước đây, vợ chồng anh T, chị T1 là con ruột và con dâu của ông có nợ hụi, vay tiền của nhiều người và có nói với ông nên ông đã cầm cố toàn bộ phần đất của ông và đưa cho bà T1 06 cây vàng 24K (khoảng 300.000.000 đồng) để trả nợ và ông cũng không biết bà T1 trả như thế nào. Bà T1 có hốt hụi và vay tiền về lo cho gia đình, ông cũng thống nhất và ký tên tại buổi hòa giải ngày 23/4/2024, ông đồng ý đứng ra trả nợ cùng với anh T, chị T1 nhưng do đã lớn tuổi nên ông trả dần hàng tháng, ông đồng ý trả 781.000.000 đồng và 18 chỉ vàng 24 kara.

* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh T, chị T1 vẫn vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp là hợp đồng vay, hụi nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về vắng mặt đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã ban hành Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (02 lần), Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và tống đạt hợp lệ cho anh Nguyễn Trung T, chị Nguyễn Thị T1 nhưng anh T, chị T1 vắng mặt không rõ lý do. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đương sự theo quy định.

[2] Về nội dung: Xét nội dung khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn A, anh Nguyễn Trung T, chị Nguyễn Thị T1 cùng có trách nhiệm trả số tiền nợ hụi là 781.000.000 đồng và số vàng vay 18 chỉ vàng 24 kara. Chứng minh cho yêu cầu của mình, bà N cung cấp hợp đồng góp hụi, xác nhận thành viên chơi hụi và biên nhận vay vàng có chữ ký của ông A, anh T, chị T1, các xác nhận của bà Nguyễn Thị L, Nguyễn Kim T2, Lê Kiều D, Ngô Cẩm N1, Huỳnh Kim L1, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thị N3 cùng có nội dung ông A, anh T, chị T1 có tham gia chơi hụi do bà N làm chủ hụi và hốt các chân hụi về phục vụ cho gia đình. Tại biên bản hòa giải ngày 23/4/2024 tại ấp T, xã K, ông A thừa nhận số nợ và sau đó có thanh toán cho bà N nhiều lần, tổng số tiền 13.500.000 đồng. Bị đơn ông A đã thừa nhận số nợ, có ký tên vào các biên nhận nợ và đồng ý cùng đứng ra thanh toán với các con của ông số nợ 781.000.000 đồng và số vàng vay 18 chỉ vàng 24 kara như bà N yêu cầu, ông xác định cùng đứng ra thanh toán, còn việc trách nhiệm của các con ông với ông thì ông không đề cập đến, ông sẽ tự thỏa thuận với các con của ông, do lớn tuổi, gia đình khó khăn nên ông xin trả dần hàng tháng. Như vậy, có căn cứ xác định ông A, anh T, chị T1 có giao dịch hụi và vay vàng của bà N số tiền 781.000.000 đồng và 18 chỉ vàng 24 kara, nay đã phát sinh tranh chấp nên được chấp nhận làm cơ sở thanh lý hợp đồng. Đối với việc nguyên đơn yêu cầu ông A thanh toán thì ông A thừa nhận và đồng ý thanh toán nên đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, cần buộc ông A, anh T, chị T1 cùng có nghĩa vụ thanh toán cho bà N số tiền 781.000.000 đồng và 18 chỉ vàng 24 kara (giá vàng tại thời điểm xét xử là 8.860.000đ/chỉ) là có căn cứ. Việc ông A yêu cầu được trả dần hàng tháng là phương thức thanh toán thuộc thẩm quyền của Cơ quan thi hành án nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Do chấp nhận yêu cầu của bà N nên ông A, anh T, chị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền 40.225.000 đồng (tròn số), mỗi người phải chịu 13.408.000 đồng (tròn số), ông A là người cao tuổi nên được miễn theo quy định, anh T, chị T1 mỗi người phải chịu 13.408.000 đồng. Bà N được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí, đã nộp tạm ứng được hoàn lại.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 471 của Bộ luật dân sự; Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N – Buộc ông Nguyễn Văn A, anh Nguyễn Trung T, chị Nguyễn Thị T1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà N số tiền 781.000.000 đồng (bảy trăm tám mươi mốt triệu đồng) và 18 chỉ vàng 24 kara (mười tám chỉ vàng hai mươi bốn ka ra).
  2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

  3. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Nguyễn Văn A phải chịu số tiền 13.408.000 đồng (đã được miễn án phí theo quy định). Buộc anh Nguyễn Trung T và chị Nguyễn Thị T1 mỗi người phải chịu 13.408.000 đồng. Bà Nguyễn Thị N không phải chịu, ngày 04/10/2024, bà N đã nộp tạm ứng án phí 17.620.000 đồng theo biên lai số 0005647 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được hoàn lại toàn bộ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  4. Án xử sơ thẩm công khai: Bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn A được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Trung T, chị Nguyễn Thị T1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Huỳnh Văn Đ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2025/DS-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay, hụi

  • Số bản án: 85/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay, hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger