Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2025/DS-PT

Ngày: 28/5/2025

V/v: Tranh chấp kiện đòi QSD đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quý Sửu

Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị An và bà Lê Thị Hồng Phương

Thư ký phiên tòa: Bà Lý Bích Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Lê Ngọc Kim Loan, Kiểm sát viên.

Ngày 28/5/2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 198/2024/DS-PT ngày 05/11/2024 về việc Tranh chấp kiện đòi quyền sử dụng đất.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên có kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐ-PT ngày 20/01/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1996; địa chỉ: Xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; ủy quyền cho luật sư Dương Thu H; Công ty TNHH C1; địa chỉ: Số E, ngõ A đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội; có mặt.

Bị đơn: Ông Đào Tiến N, sinh năm 1959; địa chỉ: Xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; có mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Lê Quang N1, và Nguyễn Công Q; Văn phòng L2 – Đoàn luật sư tỉnh T; địa chỉ: Số nhà G, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trịnh Thị Đ, sinh năm 1959; có mặt
  2. Bà Đào Thị H1, sinh năm 1957; xin vắng mặt
  3. Bà Hà Thị N2, sinh năm 1965; có mặt
  4. Ông Đào Tiến Q1, sinh năm 1966; xin vắng mặt
  5. Bà Đào Thị T, sinh năm 1969; có mặt

1

  1. Cùng địa chỉ: Xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
  2. Bà Đào Thị N3, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt
  3. Chị Đào Thị T1, sinh năm 1991; địa chỉ: Xóm C, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.
  4. Chị Đào Thị M1; sinh năm 1992; địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.
  5. Ông Nguyễn Văn L (Nguyện); sinh năm 1968; địa chỉ: tổ dân phố B, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; từ chối tham gia tố tụng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị M, đại diện theo ủy quyền bà Dương Thu H trình bày:

Ông Đào Tiến N4 và bà Vũ Thị M2 có 07 người con, gồm: Bà Đào Thị H1, ông Đào Tiến N, ông Đào Tiến S (đã chết năm 2011, có vợ là bà Hà Thị N2 và 02 con chung là Đào Thị T1, chị Đào Thị M1); ông Đào Tiến Q1, bà Đào Thị T; bà Đào Thị H2, bà Đào Thị N3.

Năm 1994, bà Đào Thị H2 kết hôn với ông Nguyễn Văn L, sinh được 01 người con duy nhất là chị Nguyễn Thị M. Cuối năm 1994, ông bà ngoại chị M là Đào Tiến N4, bà Vũ Thị M2 đã cho bà Đào Thị H2 đất ở, đất vườn, đất ruộng, tổng diện tích 1.876 m² để sinh sống định cư và canh tác trên diện tích đất đó. Từ khi được ông bà ngoại cho đất, bà H2 đã sử dụng ổn định, không tranh chấp với ai. Năm 2000, bà H2 chết do tai nạn, bố chị là ông Nguyễn Văn L do bận công việc đi làm xa, nên đã gửi chị M cho ông bà ngoại là Đào Tiến N4, Vũ Thị M2 trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi nấng. Năm 2001, do ông bà ngoại tuổi cao và không có khả năng chăm sóc, nên bố chị đã đưa chị về nhờ ông bà nội chăm sóc và có nhờ ông bà ngoại trông nom hộ nhà đất mẹ chị đã được cho nêu trên.

Khoảng năm 2002, gia đình ông Đào Tiến N4 đã lập Biên bản điều chỉnh đất đai có sự chứng kiến của chính quyền địa phương để xác định rõ phần diện tích đất đã cho mẹ chị khi còn sống, giao lại cho chị khi trưởng thành. Nội dung Biên bản điều chỉnh đất đai gia đình, ông N4 đã thống nhất và nêu rõ khi cháu M đến tuổi trưởng thành thì ông Đào Tiến N4 hoặc người thừa kế phải trao trả lại cho cháu M ruộng đất thổ cư như đơn đề nghị của ông N4 và các giấy tờ liên quan. Diện tích đất của ông N4, bà M2 được tách thành 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, 01 giấy của ông N4, 01 giấy ghi N4 (H2). Năm 2006, ông Đào Tiến N đã đón ông N4, bà M2 về ở chung, từ đó ông N tiếp quản việc trông nom phần diện tích đất ông bà ngoại đã cho chị trước đó, ông N đã trồng hoa màu trên diện tích đất ở, đất vườn. Năm 2007, bà Vũ Thị M2 chết, năm 2014, ông Đào Tiến N4 chết.

Chị M khởi kiện yêu cầu công nhận quyền sử dụng 03 thửa đất ruộng là tiêu chuẩn ruộng canh tác của mẹ chị là bà Đào Thị H2, buộc ông Đào Tiến N trả lại diện tích đất ông Đào Tiến N4, bà Vũ Thị M2 đã cho, bao gồm: thửa 816 diện

2

tích 400 m² và 47m² đất vườn liền thửa tại thửa 816a tờ bản đồ số 21, bản đồ địa chính xã T.

Bị đơn ông Đào Tiến N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị Đ trình bày:

Bố mẹ ông N là Đào Tiến N4, bà Vũ Thị M2 có 07 người con, hiện nay còn 05 người, anh S và chị H2 đã chết. Trước đó ông N4, bà M2 ở trên thửa đất 816, có xây nhà tạm cho vợ chồng em H2 ở. Năm 1996, em H2 sinh cháu M, đến năm 2000 H2 chết, ông N là anh trai phải lo hậu sự, sang cát, hương khói cho em H2 đến ngày nay. Năm 2007, ông N4, bà M2 về ở cùng với vợ chồng ông và có giao cho ông sổ đỏ, bảo ông chỉ được dùng phần đất ở của bố mẹ. Từ đó đến nay ông sử dụng 447 m² đất, không ai có ý kiến gì. Năm 2007, bà M2 chết, năm 2014, ông N4 chết.

Trong quá trình sống cùng, ông N4 bảo sang tên bìa đỏ cho ông, nhưng chưa kịp làm thì ông N4 chết. Thực tế hiện nay, ông đang sử dụng thửa đất 816 và thửa 816a, tổng diện tích là 447 m². Nay cháu M đòi đất trong đó có thửa 816, ông không nhất trí vì đất thổ cư bố mẹ ông để lại cho ai chăm sóc ông bà lúc cuối đời. Đối với thửa 816a ông bà cho cô H2 để làm nhà nhưng chưa kịp làm cô H2 đã chết, thửa đất bỏ hoang đã lâu, ông N4 đã bán cho ông C 553 m², còn lại 47 m², ông nhất trí trả lại cho cháu M phần còn lại là 47 m² tại thửa đất 816a tờ bản đồ 21 xã T; 03 thửa ruộng nông nghiệp là định suất ruộng của bà H2, hiện nay ông không quản lý, chỉ giữ sổ đỏ mang tên ông N4 đối với diện tích đất trên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Đào Thị H1, bà Hà Thị N2, ông Đào Tiến Q1, Đào Thị T, Đào Thị N3, chị Đào Thị T1 và chị Đào Thị M1 trình bày:

Bố mẹ các ông, bà là Đào Tiến N4, chết năm 2014, Vũ Thị M2, chết năm 2007, có 07 người con như chị M, ông N trình bày là đúng.

Vợ chồng bà H2, ông L kết hôn năm 1994, sau khi kết hôn, bố mẹ làm nhà cho vợ chồng bà H2 ở tại khu đất của ông N4, bà M2. Sau đó bố mẹ cho ông S, bà H2 nhà đất có mời xóm và địa chính xã về đo đạc, khi đó bố mẹ nói rõ phần đất dưới cho con trai là ông S, phần đất trên cho hết bà H2 (theo chiều của quả đồi). Trước đó, các cụ đã cho bác N, bác Q1 đất để ở riêng. Năm 2000, H2 bị điện giật chết, cháu M về ở với ông bà nội bên P. Thời gian sau thấy bố mẹ nói chuyện có bán đi một ít đất vườn cho ông C lấy tiền làm thủ tục bốc mộ cho H2 và gửi bên nội nuôi cháu M. Sau khi ông, bà chết, bác N quản lý đất của cháu M, nhà cửa của H2 và ông bà bị hỏng hết hiện nay không còn, bác N san phẳng đất để trồng cây trên đó.

Nay cháu M kiện đòi 03 thửa ruộng và 400m² đất thổ cư, 47m² đất vườn tạp, quan điểm các ông bà là toàn bộ số đất đó bố mẹ đã cho bà H2, bà H2 chết là của cháu M.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L (tức N5) trình bày:

3

Ông kết hôn với bà Đào Thị H2 năm 1994, sau khi kết hôn ông ở rể cùng bố mẹ vợ là Đào Tiến N4 chết năm 2014, Vũ Thị M2 chết năm 2007. Ngay sau khi cưới bố mẹ vợ cho đất ở phía trên để vợ chồng ông làm nhà ở, phần ruộng thì bố mẹ cũng phân chia cho bà H2 luôn vì là tiêu chuẩn ruộng của bà H2. Bố mẹ vợ ông ở dưới với vợ chồng bác S, hai đất giáp nhau theo thế đồi. Ngay sau khi làm nhà bố mẹ vợ và ông có mời ông T2 cán bộ địa chính, ông Q là dân quân xóm, ông N7 là trưởng xóm, ông Q2 làm bí thư sang để đo đất ký giáp ranh với nhà ông C, ông M3, ông T3 và bố mẹ vợ. Năm 2000, bà H2 tuốt lúa bị điện giật chết, sau đó ông về tìm giấy tờ cho đất không thấy, bố mẹ vợ bảo sẽ làm thủ tục cho cháu M đàng hoàng. Do cháu M còn nhỏ nên ông đưa cháu về bên nội nuôi dưỡng, ông đi làm trong miền nam. Thời gian sau khoảng năm 2005, bố vợ có bảo phải bán một phần đất vườn của vợ chồng ông cho nhà ông C cạnh đó để bốc mộ cho vợ, ông nhất trí. Sau này ông đi làm thì anh Q1 vẫn trồng cây trên đó, khi bố mẹ vợ yếu về nhà ở với bác N, sau đó bác N bắt bác Q1 chặt hết cây để bác N trồng. Ông là con rể, đất ông bà ngoại cho vợ chồng, vợ ông đã mất, ông bà cho cháu gái nên ông để M lớn tự về nói với các bác trả đất cho cháu. Nay cháu M kiện đòi 03 thửa ruộng và 400m² đất thổ cư và đất vườn tạp, quan điểm ông là toàn bộ số đất đó bố mẹ vợ đã cho vợ chồng ông, sau này cho cháu M là con gái ông, nên ông hoàn toàn nhất trí. Ông L không có yêu cầu gì đối với phần đất của bố mẹ vợ ông đã cho cháu M, nhất trí để lại cho cháu M quản lý, sử dụng toàn bộ.

Kết quả xem thẩm định tài sản đối với các thửa đất đang có tranh chấp: Xác định thửa 732, 733, tờ bản đồ 21 đã tách thửa cho các hộ nhưng chưa chỉnh lý trên bản đồ giấy và bản đồ số. Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu các bên xác định mốc giới tứ cận với các hộ giáp ranh là ông Nguyễn Văn M3, bà Hà Thị N2, ông Nguyễn Văn C, các bên thống nhất đóng cọc để xác định ranh giới thực tế.

Kết quả định giá tài sản: giá đất ở tính thuế là 400.000 đ/ m², thực tế chuyển nhượng tại địa phương là 800.000 đồng đến 1.000.000 đ/ m²; đất vườn có giá 59.000đ/ m² ; 150 cây keo trồng trên đất có đường kính gốc từ 5 đến 10 cm, giá 35.000đ/ cây.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M về việc tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất với ông Đào Tiến N.

- Giao cho chị Nguyễn Thị M quản lý sử dụng các thửa đất 581 diện tích 705 m² đất 2L, tờ bản đồ 20; thửa 636 diện tích 99 m² đất 1L, thửa 796 diện tích 72 m² đất 2L. Đất đã được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 164756 ngày 04/9/2022 mang tên hộ ông Đào Tiến N4

- Giao chị Nguyễn Thị M sử dụng thửa 816 diện tích 400 m² đất ở tại nông thôn và 332,5 m² đất trồng cây lâu năm tại thửa 816a tờ bản đồ 21 bản đồ xã T. Đất đã được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 164756 ngày 04/9/2022 mang tên hộ ông Đào Tiến N4

4

Chị Nguyễn Thị M phải có trách nhiệm trích chia cho ông Đào Tiến N số tiền 29.993.000đ. Bù trừ số tiền chị M phải trích chia cho ông N là 29.993.000đ và tiền chi phí tố tụng ông N phải trả chị M là 3.340.000 đồng. Buộc chị M còn phải trả cho ông N số tiền: 29.333.000 đồng - 3.340.000 đồng = 25.993.000₫ (hai mươi lăm triệu chín trăm chín mươi ba nghìn đồng).

Ông Đào Tiến N có trách nhiệm giao nộp bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 164756 UBND huyện P cấp ngày 04/9/2022 mang tên hộ ông Đào Tiến N4 cho Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện P, tỉnh Thái Nguyên để đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.

Chị Nguyễn Thị M có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo, yêu cầu thi hành án của các đương sự.

Ngày 01/10/2024 và ngày 14/10/2024, bị đơn ông Đào Tiến N, nguyên đơn chị Nguyễn Thị M có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.

Nội dung kháng cáo nguyên đơn chị Nguyễn Thị M đề nghị Toà án cấp phúc thẩm công nhận toàn bộ diện tích đất nông nghiệp là tiêu chuẩn định suất của bà Đào Thị H2, đất thổ cư, đất vườn được ông N4, bà M2 tặng cho thuộc quyền sử dụng của chị M theo hiện trạng thực tế hiện nay.

Nội dung kháng cáo ông N cho rằng, Toà án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, nội dung giải quyết vụ án không đúng, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông N; đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ toàn bộ án sơ thẩm để giải quyết lại theo quy định.

Tại phiên toà phúc thẩm ngày 14/3/2025, người kháng cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, các đương sự giữ nguyên ý kiến trình bày tại Toà án cấp sơ thẩm. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị M đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên toà để xem xét thẩm định lại vị trí phần đất thổ cư, đất vườn theo diện tích thực tế sử dụng, xác định lại số hiệu thửa đất theo bản đồ địa chính hiện nay với số hiệu thửa đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện P cấp cho ông Đào Văn N6. Hội đồng xét xử đã quyết định ngừng phiên toà, xem xét thẩm định tại chỗ theo đề nghị của chị M.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ xác định như sau:

Về vị trí phần đất thổ cư, đất vườn tranh chấp: Phía Tây tiếp giáp với phần đất ông N6 đã chuyển nhượng cho gia đình ông C, ranh giới là đường mòn; phía Đông tiếp giáp đường bê tông xóm; phía Nam tiếp giáp đất của gia đình ông M3, ranh giới là đường taluy dương, hai bên không tranh chấp; phía Bắc tiếp giáp thửa đất 1109 của gia đình bà N2 theo bản đồ địa chính năm 2019 và hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà N2 năm 2024.

Về số hiệu thửa đất: Theo tờ bản đồ F48 đo vẽ năm 1995 thể hiện thửa đất 816, diện tích 1000m2, chỉnh lý bằng tay, ghi H2 (N6); thửa đất 816 được tách ra từ thửa 732. Thửa 816 và 816ª trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của

5

ông Ngọc L1 cùng một thửa không xác định được ranh giới giữa thửa đất ở và đất vườn. Hiện tại thửa đất 816 và 816ª theo bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2019 là thửa 540.

Căn cứ vào ranh giới sử dụng theo thực tế giữa phần đất đã chuyển nhượng cho gia đình ông C và ranh giới giữa các thửa đất còn lại theo bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2019, xác định thửa 816 và 816ª trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện P cấp cho ông Đào Văn N6 xác định là thửa 540, diện tích thực tế là 889,3 m2.

Tại phiên toà phúc thẩm ngày 28/5/2025, bà N2 khai trong diện tích 889,3 m2 đất theo kết quả đo đạc có một phần diện tích đất ông N6 đã cho ông S năm 2003, ông S cho ông N sử dụng, nay xác định của ông N. Bà N2 xuất trình Giấy xác nhận có xác nhận của Trưởng xóm Đ và UBND xã T ngày 11/5/2003.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông N tranh luận cho rằng:

Chị M khởi kiện yêu cầu trả lại cho chị phần đất nông nghiệp và thửa đất số 816, 816ª, ông N6, bà M2 đã cho mẹ chị là bà H2, Toà án cấp sơ thẩm lại chia thừa kế của ông N6, bà M2 là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Về nguồn gốc các thửa đất chị H2 tranh chấp là của ông N6, bà M2, năm 2000 bà H2 chết, năm 2002, ông N6 mới được cấp bìa, bà H2 thời điểm đó không phải là thành viên hộ gia đình, nên không có quyền sử dụng đất. Biên bản điều chỉnh đất đai năm 2002 do Bí thư, Trưởng xóm, Công an viên lập, không nói rõ ông N6 cho chị M cụ thể như thế nào, nên không có giá trị pháp lý.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm: Thẩm phán chủ tọa phiên toà, Hội đồng xét xử và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Đào Tiến N; chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị M; sửa bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên theo hướng: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị M, xác định 03 thửa đất nông nghiệp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện P cấp cho ông Đào Văn N6 là tiêu chuẩn định suất ruộng canh tác của bà H2, nay thuộc quyền sử dụng của chị M; xác định thửa 816, 816ª trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện P cấp cho ông Đào Văn N6, nay là thửa 540, tờ bản đồ số 21, diện tích 889,3 m2 ông N6, bà M2 đã cho bà H2 sử dụng từ năm 1994, nay thuộc quyền sử dụng của chị M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

6

[1] Nguyên đơn, bị đơn kháng cáo trong hạn luật định, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung:

Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, lời trình bày của các đương sự và kháng cáo của các đương sự, Hội đồng xét xử thấy:

[2] Về 03 thửa đất nông nghiệp gồm thửa 581, 636, 706, đều thuộc tờ bản đồ số 20 xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 04/9/2002 cho ông Đào Tiến N4, các đương sự đều xác định là tiêu chuẩn ruộng của bà Đào Thị H2 là mẹ đẻ chị Nguyễn Thị M, hiện nay chị M đang quản lý, sử dụng. Ông L là bố chị M không có ý kiến gì, đề nghị cho chị M được sử dụng toàn bộ, nên xác định thuộc quyền sử dụng của chị M.

[3] Về diện tích đất ở và đất vườn: Tại Biên bản điều chỉnh về đất đai, thành phần có ông Phạm Văn B, Bí thư, Trưởng ban ruộng đất; ông Nguyễn Văn N7, Trưởng xóm, Phó ban; ông Nguyễn Văn Q2, Công an viên, là uỷ viên có nội dung: Căn cứ vào đơn đề nghị của ông Đào Tiến N4 về việc điều chỉnh đất đai của gia đình và thực tiễn hoàn cảnh gia đình chị H2. Ông N4 luôn có trách nhiệm với cháu M còn nhỏ đến độ tuổi trưởng thành, ông hoặc người thừa kế sử dụng đất phải trao trả cho cháu ruộng đất thổ cư như trong đơn đề nghị của ông và các giấy tờ có liên quan. Cụ thể từng bìa đỏ là: .... Bìa 2: ông N4 (H2) bao gồm các thửa 581, 636, 796 là đất 01 lúa, 02 lúa; thửa 816, diện tích 400 m2 thổ cư; thửa 816a, diện tích 600 m2 vườn tạp.

Các đương sự đều thừa nhận, thực tế phần diện tích đất thổ cư và đất vườn nêu trên, vợ chồng bà H2, ông L là bố mẹ chị M đã làm nhà, sử dụng liên tục từ sau khi cưới năm 1994 đến năm 2000 bà H2 chết, ngôi nhà của bà H2 vẫn còn tồn tại sau này bị hỏng, đổ nát.

Như vậy, việc ông N4, bà M2 đã cho vợ chồng bà H2, ông L là bố mẹ đẻ chị M diện tích đất thổ cư, đất vườn từ năm 1994, vợ chồng bà H2 đã làm nhà trên đất, sử dụng liên tục từ năm 1994 đến năm 2000 bà H2 chết. Năm 2002, ông N4 đã phân chia đất cho các con trong đó có xác định phần diện tích đất nông nghiệp và đất thổ cư, đất vườn ông kê khai cấp bìa ghi rõ Bìa 2: N4 (H2) và xác định ông hoặc người thừa kế của ông phải trao trả diện tích đất cho chị M. Bà M2 và những người là con của ông N4, bà M2 không ai có ý kiến phản đối. Ông N cho rằng phần đất thổ cư ông N4, bà M2 khi về ở với ông đã đưa bìa đỏ cho cho ông nên không nhất trí trả lại cho chị M, nhưng không đưa ra được tài liệu, căn cứ chứng minh.

[4] Tại phiên toà phúc thẩm bà N2 xuất trình Giấy xác nhận, nội dung ông N4 đã cho ông S là chồng bà thửa đất số 733, tờ bản đồ số 21, diện tích 1.069 m2. Tuy nhiên, thửa đất 816, 816a được tách ra từ thửa 732, thửa 733, tờ bản đồ số 21, diện tích 1.069m2, ông N4 kê khai ở Bìa 1 trong Biên bản điều chỉnh về đất đai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó ông Ngọc T4 cho ông S, không liên quan đến thửa đất 816, 816a chị M đang khởi kiện. Lời trình bày của bà N2 về việc ông N4 cho ông S một phần đất tranh chấp, sau đó

7

ông S cho ông N là không có căn cứ.

[5] Toà án cấp sơ thẩm nhận định trong Biên bản điều chỉnh về đất đai chỉ có ý kiến của ông N4 xác định giao đất cho chị M, nên đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị M, xác định ½ diện tích đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông N4 giao cho chị M là của cụ M2 và chia thừa kế phần đất của cụ M2 là không có căn cứ.

[6] Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ đối với thửa đất 816, 816ª đã xác định được ranh giới tứ cận thửa đất theo ranh giới sử dụng thực tế và theo bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2019. Xác định thửa 816 và 816ª trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện P cấp cho ông Đào Tiến N4 là thửa 540, diện tích thực tế là 889,3 m2. Nên công nhận quyền sử dụng đất thửa 540, tờ bản đồ số địa chính số B, diện tích 889,3 m2 thuộc quyền sử dụng của chị M, buộc ông N, bà Đ phải thu hoạch cây cối, tài sản trên đất để trả lại cho chị M.

[7] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông N; có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn chị Nguyễn Thị M; sửa bản án sơ thẩm 34/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên theo nhận định nêu trên.

Về án phí:

[8] Án phí sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Đào Tiến N

[9] Án phí phúc thẩm: Miễn án phí phúc thẩm cho ông N; Chị M không phải chịu án phí phúc thẩm.

Về chi phí tố tụng: Ghi nhận chị M chịu chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm là 4.600.000 đồng (đã thực hiện xong).

Từ những phân tích nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH.

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đào Tiến N; chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn chị Nguyễn Thị M; Sửa bản án dân sự sơ thẩm 34/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, như sau:

Áp dụng Điều 164, 166 Bộ luật dân sự; Điều 12, 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị M về việc tranh chấp kiện đòi quyền sử dụng đất với ông Đào Tiến N.

  1. Công nhận chị Nguyễn Thị M được quản lý, sử dụng thửa đất số 581, diện tích 705 m2; thửa 636, diện tích 99 m2; thửa số 796, diện tích 72 m2, đều thuộc tờ bản đồ địa chính số 20 xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, UBND huyện

8

P, tỉnh Thái Nguyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 04/9/2002 mang tên ông Đào Tiến N.

  1. Buộc ông Đào Tiến N, bà Trịnh Thị Đ phải thu hoạch cây cối, tài sản trên đất, trả cho chị Nguyễn Thị M thửa đất 816 và 816a, tờ bản đồ số 21, diện tích 1000 m2, UBND huyện P, tỉnh Thái Nguyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 04/9/2002 mang tên ông Đào Tiến N, nay xác định là thửa đất số 540, tờ bản đồ địa chính số 21 xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, diện tích thực tế là 889,3 m2 (có sơ đồ chi tiết kèm theo).
  2. Chị Nguyễn Thị M có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.
  3. Buộc ông Nguyễn Tiến N8 có trách nhiệm giao nộp bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 164756, UBND huyện P cấp ngày 04/9/2002 mang tên ông Đào Tiến N cho cơ quan có thẩm quyền để đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.

2. Về án phí:

Án phí sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Đào Tiến N; chị Nguyễn Thị M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả chị M 300.000 đồng tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu số 0003627 ngày 28/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Án phí phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Đào Tiến N; chị M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; Hoàn trả ông N, chị M, mỗi người 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm theo các biên lai số 0003975 ngày 15/10/2024; số 0003977 ngày 15/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

3.Về chi phí tố tụng: Chị Nguyễn Thị M tự nguyện chịu 4.600.000 đồng chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm (đã thực hiện xong).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND huyện Phú Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Quý Sửu

9

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

10

V

i nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • TAND huyện Phú Bình;
  • Chi cục THADS huyện Phú Bình;

Nơi

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

11

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Hoàng Quý Sửu

H3

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

12

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2025/DS-PT ngày 28/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp kiện đòi qsd đất

  • Số bản án: 85/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi QSD đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Mơ - Đào Tiến Ngà - Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger