Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2025/DS- PT

Ngày 25/6/2025

“V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Anh Tuyết

Các Thẩm phán:

Ông Bùi Đăng Huy

Bà Phạm Thúy Hằng

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Hữu Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Quyên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 29/2025/TLPT- DS ngày 07 tháng 5 năm 2025 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, do bản án Dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS- ST ngày 13/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách bị kháng cáo; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 26/2025/QĐXX- PT ngày 06/6/2025, giữa:

  • Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1959; có mặt; Địa chỉ: Thôn L, xã Q (trước là xã T), huyện N, tỉnh Hải Dương, có mặt.
  • Bị đơn: Ông Nguyễn Đức T1, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1959; Đều ở địa chỉ: Thôn L, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương (Đều có mặt)
  • Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn L, xã Q (trước là xã T), huyện N, tỉnh Hải Dương.
  • Người làm chứng: Chị Trần Thị H, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn L, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương, có mặt.

* Người kháng cáo: Ông Nguyễn Đức T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản đối chất, biên bản hòa giải, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày: Do quen biết và có mối quan hệ làm ăn, vợ chồng ông T1, bà T2 nhiều lần vay tiền của vợ chồng ông. Đến ngày 03/4/2016 (âm lịch), ông T1, bà T2 đến nhà ông chốt tổng số nợ còn lại gốc là 1.886.000.000 đồng, tiền lãi là 203.000.000 đồng, nhưng ghi là thanh toán ngày 03/4/2016 âm lịch. Ngày 01/01/2016 (âm lịch) vay của T, N: 1.886.000.000 đồng. Ông T1 tự viết giấy biên nhận sau đó cả hai vợ chồng cùng ký tên xác nhận. Trong giấy không ghi lãi suất mà thỏa thuận ngoài lãi suất là 16%/năm. Để chắc chắn ông T1 tự ghi thêm lãi khoản 1.886.000.000 đồng, lãi 203.000.000 đồng và ký tên T1, có nghĩa là tính đến thời điểm ngày 03/4/2016 âm lịch ông T1, bà T2 còn nợ vợ chồng ông số tiền gốc là 1.886.000.000 đồng và tiền lãi là 203.000.000 đồng, để ông không tính lãi của khoản 203.000.000 đồng. Đồng thời với khoản nợ của mình, vợ chồng ông T1 còn nhận nợ cho khoản nợ của con trai là anh N1 nợ vợ chồng ông 1.900.000.000 đồng. Ghi hạn trả cuối cùng vào tháng 07/2016 âm lịch. Cả 02 khoản nợ ông T1 ghi cùng 01 trang giấy. Đối với khoản nợ 1.900.000.000 đồng ông T1 cũng tự tính và ghi gốc, lãi để chốt nợ với ông. Tuy nhiên sau đó ông T1 không nhận trả nợ thay cho anh N1 khoản nợ của anh N1 nợ vợ chồng ông nên ông xác định đến thời điểm hiện nay ông T1, bà T2 nợ vợ chồng ông 1.886.000.000 đồng nợ gốc và 203.000.000 đồng là tiền lãi của những khoản vay trước đó mà ông T1, bà T2 chưa thanh toán. Tuy nhiên kể từ ngày chốt nợ 03/4/2016 âm lịch đến nay ông T1, bà T2 đã trả ông được số tiền 1.400.000.000 đồng (theo các giấy biên nhận mà ông T1 đã xuất trình), đây là tiền lãi ông T1, bà T2 trả cho tiền gốc của 1.886.000.000 đồng và số tiền lãi còn nợ là 203.000.000 đồng. Vì vậy ông trừ 1.400.000.000 đồng – 203.000.000 đồng = 1.197.000.000 đồng. Như vậy 1.197.000.000 đồng là tiền ông T1 trả lãi cho khoản vay 1.886.000.000 đồng. Tính đến ngày 13/02/2025, ông chỉ yêu cầu ông T1, bà T2 trả ông số tiền gốc là 1.886.000.000 đồng, lãi ông T1, bà T2 đã thanh toán xong. Tuy nhiên giữa ông và ông T1, bà T2 không thống nhất được về lãi suất nên đề nghị Toà án tính lãi suất theo lãi suất cho vay trung hạn của Ngân hàng N2, đề nghị Toà án đối trừ 1.197.000.000 đồng vào tiền lãi, nếu đến thời điểm xét xử số tiền này mà thiếu thì ông cho còn thừa thì đề nghị đối trừ vào nợ gốc.

Ông T giao nộp 01 bản gốc giấy ghi thanh toán ngày 03/4/2016 âm lịch có chữ ký của ông T1, bà T2 và 1 bản gốc ghi lãi khoản 1.886.000.000 đồng, lãi 203.000.000 đồng có chữ ký của ông T1.

- Bị đơn ông Nguyễn Đức T1 trình bày: Vợ chồng ông với vợ chồng ông T trước đây là người cùng xã, do cần tiền làm ăn nên nhiều lần ông vay tiền của vợ chồng ông T và đã thanh toán. Đến ngày 18/11/2015 ông vay của ông T 500.000.000 đồng, ngày 07/12/2015 vay 1.000.000.000 đồng. Cộng 2 khoản là 1.500.000.000 đồng; tuy nhiên khoản 500.000.000 đồng vay ngày 18/11/2015 bà N chỉ đưa cho ông 400.000.000 đồng và nói rằng 100.000.000 đồng sẽ trừ vào nợ lãi của số tiền 1.900.000.000 đồng mà con trai ông là anh N1 vay của ông T. Do vậy ông xác định vợ chồng ông nợ vợ chồng ông T là 1.400.000.000 đồng, vì vậy đến ngày 03/4/2016 âm lịch giữa hai bên đã chốt nợ và thống nhất lãi suất của số tiền 1.400.000.000 đồng là 203.000.000 đồng kể từ thời điểm vay đến ngày 03/4/2016 âm lịch và 1 số khoản lãi của các khoản vay trước đó mà vợ chồng ông chưa thanh toán, cộng vào là 1.886.000.000 đồng. Như vậy ông xác định đến thời điểm 03/4/2016 âm lịch vợ chồng ông chỉ còn nợ 1.886.000.000 đồng chứ không có khoản 203.000.000 đồng như ông T trình bày. Ông xác định khoản vay 1.886.000.000 đồng là khoản vay không có lãi, đã trả 1.400.000.000 đồng, chỉ còn nợ lại 486.000.000 đồng, ông đề nghị được trả dần.

Bà Nguyễn Thị T2 trình bày: Bà nhất trí với lời trình bày của ông T1, xác định vợ chồng bà còn nợ ông T, bà N 486.000.000 đồng và đề nghị được trả dần.

Ông T1, bà T2 xuất trình bản chính giấy bà N ghi “khoản 2, 500 triệu từ ngày 18-11-2015.....khoản 3, 1 tỷ từ ngày 7-12-2015....” và 28 giấy ông T1 thanh toán tiền trả ông T.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà là vợ của ông T, bà nhất trí với yêu cầu khởi kiện và các quan điểm ông T trình bày.

- Chị Trần Thị H xác định: Chị là vợ của anh N1 và là con dâu của ông T1, bà T2. Trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến 2018 ông T1 có vài lần đưa tiền cho chị bảo chị đem đến nhà và đưa tiền cho ông T, bà N, số tiền bao nhiêu và cụ thể ngày nào chị không nhớ, đến nay chị đã trả xong số tiền mà ông T1 đưa để trả ông T.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS- ST ngày 13/3/2025, Tòa án nhân dân huyện Nam Sách đã xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Đức T1 và bà Nguyễn Thị T2 phải trả cho ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị N số tiền nợ là 2.024.868.365 đồng (trong đó tiền nợ gốc là 1.082.532.574 đồng, tiền nợ lãi là 992.335.790 đồng) và tiền nợ lãi trên số nợ gốc từ ngày 14/3/2025 đến khi thanh toán xong nợ. Ngoài ra còn tuyên về quyền đề nghị thi hành án, tiền án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 25/3/2025, ông T1 kháng cáo không nhất trí bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn (ông T1) giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày quan điểm, lập luận làm căn cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo, đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (bà N) nhất trí với bản án sơ thẩm, đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử vụ án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng quy định về việc có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Về đường lối giải quyết vụ án: Kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ chấp nhận, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm; Về án phí phúc thẩm: Ông T1 được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị đơn (ông T1) làm trong thời hạn luật định và thuộc diện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm nên kháng cáo hợp lệ, được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Đối với nội dung kháng cáo của bị đơn (ông T1) nêu trong đơn kháng cáo và qua việc làm rõ tại phiên tòa phúc thẩm. HĐXX nhận thấy:

[2.1] Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng và các tài liệu được thu thập trong hồ sơ vụ án thì thấy :

  • Đối với khoản nợ gốc: Các đương sự tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm đều thống nhất có khoản chốt nợ số tiền 1.886.000.000 đồng vào ngày 03/4/2016 âm lịch thể hiện bởi giấy vay tiền do ông T1 viết và có chữ ký của cả hai vợ chồng ông T1, bà T2, do đó HĐXX thấy có đủ cơ sở xác định đến ngày 03/4/2016 âm lịch ông T1, bà T2 còn nợ ông T, bà N số tiền là 1.886.000.000 đồng.
  • Đối với khoản nợ lãi 203.000.000 đồng: Các đương sự đều trình bày số tiền 203.000.000 đồng là tiền lãi của các khoản khác. Ông T xác định sau nhiều lần vay tiền và trả tiền giữa hai bên, đến ngày 03/4/2016 âm lịch, ông T1 và bà T2 chốt lại còn nợ vợ chồng ông 1.886.000.000 đồng và lãi là 203.000.000 đồng. Ông T1, bà T2 xác định chỉ vay của ông T, bà N 1.400.000.000 đồng thể hiện tại giấy bà N ghi “Khoản 2, 500 triệu.... khoản 3, 1 tỷ..”, việc ông bà chốt tiền vay ngày 03/4/2016 âm lịch là do cháu của ông bà khóc nhiều, ông T ép ông bà phải viết vậy chứ thực tế ông bà chỉ vay ông T 1.400.000.000 đồng và lãi của nhiều khoản trước cộng dồn vào, tổng là 1.886.000.000 đồng. Xét thấy các đương sự đều thừa nhận chữ ký trong giấy thanh toán ghi ngày 03/4/2016 âm lịch là của ông T1 viết, chữ ký của ông T1, bà T2. Ông T1, bà T2 đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Sau khi viết và ký xong văn bản, ông bà không có ý kiến gì cho đến khi ông T khởi kiện. Việc ông T1 cho rằng vợ chồng ông trước khi chốt nợ ngày 3/4/2016 âm lịch với ông T chỉ vay 1.400.000.000 đồng chứng minh bởi giấy bà N ghi, giấy ghi 2 khoản vay 1.500.000.000 đồng nhưng thực chất vợ chồng ông chỉ nhận được 1.400.000.000 đồng vì bà N trừ 100.000.000 đồng vào tiền lãi của khoản vay của con ông bà (anh N1). Số tiền 203.000.000 đồng là tiền lãi của khoản 1.400.000.000 đồng và một số khoản vay khác trước đó của ông vay ông T cộng lại là 1.886.000.000 đồng. Như vậy tiền lãi 203.000.000 đồng đã nằm trong 1.886.000.000 đồng, còn việc ông ghi lãi khoản 1.886.000.000 đồng; lãi 203.000.000 đồng là ông ghi nháp. HĐXX xét thấy việc ông T1 tự tay ghi “lãi khoản 1.886.000.000 đồng, lãi 203.000.000 đồng” ký chữ “T1” bên dưới thể hiện sự xác nhận cho những gì ông T1 ghi phía trên nên việc ông T1 khai ghi nháp không có cơ sở. Do vậy, yêu cầu của nguyên đơn đối với khoản nợ lãi 203.000.0000 đồng do chính ông T1 ghi và ký phù hợp với lời khai của cả nguyên đơn và bị đơn là có khoản lãi 203.000.000 đồng. Do đó HĐXX thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã đã xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn tính đến ngày 03/4/2016 âm lịch ông T1, bà T2 còn nợ ông T số tiền lãi là 203.000.000 đồng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[2.2] Trong giấy thanh toán không ghi lãi, không ghi thời hạn trả. Ông T xác định các bên thỏa thuận lãi ngoài là 16%/năm, ông T1 xác định số tiền 1.886.000.000 đồng ông vay của ông T không có lãi, không có thời hạn. Xét thấy, trong các giấy ông T1 thanh toán tiền trả ông T, có giấy ghi nội dung trả lãi, có giấy không ghi nội dung trả lãi, các bên không thống nhất được về lãi suất. HĐXX thấy, căn cứ vào Điều 469 của Bộ luật dân sự, xác định đây là Hợp đồng vay không kỳ hạn có lãi suất. Ông T tự nguyện yêu cầu bị đơn thanh toán lãi của khoản nợ gốc đến ngày 3/4/2024, do vậy tính từ ngày 03/4/2016 âm lịch tức ngày 09/5/2016 dương lịch đến ngày 03/4/2024 dương lịch, ông T1, bà T2 phải trả cho ông T, bà N số tiền nợ gốc là 1.886.000.000 đồng và tiền lãi chốt là 203.000.000 đông. Ông T1, bà T2 đã thanh toán 200.000.000 đồng vào ngày 29/4/2016 âm lịch tức ngày 04/6/2016 dương lịch (BL: 77). Như vậy đối trừ kho ản nợ 203.000.000 đồng, ông T1, bà T2 còn nợ 3.000.000 đồng. Cộng 02 khoản nợ trên, ông T1 bà T2 còn nợ ông T, bà N số tiền là 1.889.000.000 đồng. Sau khi chốt nợ, vợ chồng ông T1 đã thực hiện việc thanh toán cho vợ chồng ông T 27 lần theo các chứng từ mà cả hai bên đã thống nhất với tổng số tiền là 1.218.000.000 đồng (BL:40 đến 79).

[2.3] Do các đương sự tranh chấp về lãi suất nên việc Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 476 của Bộ luật Dân sự 2005, Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật dân sự năm 2005 để giải quyết, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để tính nợ gốc và nợ lãi đến hết ngày 03/4/2024 ông T1, bà T2 phải trả cho ông T, bà N tổng nợ = 2.024.868.365 đồng (trong đó tiền nợ gốc là 1.082.532.574 đồng, tiền nợ lãi là 992.335.790 đồng) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[2.4] Như phân tích, nhận định ở trên, HĐXX thấy cấp sơ thẩm đã tuyên xử đúng quy định của pháp luật về số tiền nợ gốc, nợ lãi bị đơn phải trả cho ông T, bà N và tiền lãi chậm thanh toán tiền nợ gốc chưa thanh toán kể từ ngày 14/3/2025.

[2.5] Ông T1 kháng cáo không nhất trí với bản án sơ thẩm nhưng tại cấp phúc thẩm không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh kháng cáo là có căn cứ theo quy định của pháp luật.

[2.6] Từ các nhận định đã được phân tích ở trên, HĐXX thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định, nhưng do ông T1 là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đức T1.
  2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS- ST ngày 13/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
  3. Về án phí: Miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Đức T1.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (25/6/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - TAND huyện Nam Sách;
  • - Chi cục THA DS huyện Nam Sách;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hs; lưu toà.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phạm Anh Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2025/DS-PT ngày 25/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 85/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger