TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 85/2025/DS-PT Ngày 24 -6-2025 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Ứng.
Các Thẩm phán: Ông Dương Hà Ngân và ông Nguyễn Thế Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thúy là Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Bắc – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 40/2025/TLPT-DS ngày 28-5-2025 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2025/DS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 50/2025/QĐ-PT ngày 02 tháng 6 năm 2025; quyết định hoãn phiên tòa số 35/2025/QĐ-PT ngày 18 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Văn D và bà Trần Thị Hồng T; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, có mặt.
Bị đơn: Ông Phạm Văn T1 và bà Đinh Thị H, địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, có mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn bà Đinh Thị H
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn ông Trần Văn D, bà Trần Thị Hồng T trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa: Do có nhu cầu vay tiền để đáo hạn Ngân hàng, nên ông Phạm Văn T1, bà Đinh Thị H có vay tiền ông Trần Văn D, bà Trần Thị Hồng T (vay mượn thành nhiều lần), quá trình vay mượn ông T1, bà H có làm giấy nhận nợ ngày 02/02/2023 và văn bản không đề ngày tháng năm, thể hiện nội dung ông T1, bà H có nợ ông D, bà T số tiền 910.000.000 đồng, thời hạn thanh toán chia thành 02 đợt (ngày 14/01/2024 trả 400.000.000 đồng; ngày 20/01/2024 trả 510.000.000 đồng). Đến thời hạn thanh toán đã nhiều lần ông D, bà T yêu cầu ông T1, bà H phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền đã vay, tuy nhiên ông T1, bà H cố tình trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Do đó, ông D, bà T khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil giải quyết buộc ông Phạm Văn T1, bà Đinh Thị H phải có nghĩa vụ thanh toán số cho ông D, bà H số tiền 910.000.000 đồng.
Lời khai của bị đơn bà Đinh Thị H trong quá trình giải quyết vụ án:
Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/11/2024 bà Đinh Thị H thừa nhận có vay tiền ông Trần Văn D, bà Trần Thị Hồng T, việc vay mượn thành nhiều lần, quá trình vay mượn bà H có nợ lại ông D, bà T số tiền 910.000.000 đồng, đối với giấy vay tiền liên quan đến số nợ 910.000.000 đồng bà H thừa nhận chữ ký bên người vay là của bà, tuy nhiên giấy vay tiền là do ông D, bà T ép bà H phải ký vào, bà H đồng ý thanh toán số tiền 910.000.000 đồng cho ông D, bà T theo hình thức trả dần thành nhiều lần cho đến khi hết nợ.
Tại bản trình bày ý kiến ngày 05/12/2024; biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 05/12/2024; biên bản hòa giải ngày 05/12/2024 bà H thừa nhận có nợ ông D, bà T số tiền 910.000.000 đồng, đối với giấy nhận nợ số tiền 910.000.000 đồng bà H và chồng (Phạm Văn T1) ký vào là do bị ông D đánh đập, ép buộc ký vào giấy nhận nợ, do đó bà H đề nghị tuyên vô hiệu đối với giấy nhận nợ trên.
Lời khai của bị đơn ông Phạm Văn T1 trong quá trình giải quyết vụ án:
Ông T1 không liên quan đến việc vay mượn giữa ông Trần Văn D và bà Đinh Thị H, đối với giấy nhận nợ ông D cung cấp tại Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil thì ông T1 thừa nhận chữ ký bên người vay là của ông T1, tuy nhiên việc ông T1 ký vào giấy nhận nợ là do bị ông D ép buộc, ông T1 không có liên quan gì đến vụ án này.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm và yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2025/DS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông đã căn cứ Điều 26; Điều 33; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 463; Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016. Tuyên xử.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn D, bà Trần Thị Hồng T, buộc bị đơn ông Phạm Văn T1, bà Đinh Thị H phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần Văn D, bà Trần Thị Hồng T số tiền 910.000.000 đồng (chín trăm mười triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (trường hợp theo đơn yêu cầu) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07/5/2025 bị đơn bà Đinh Thị H kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil.
Tại phiên tòa phúc thẩm, phía bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn khoản 1 Điều 308 BLTTDS không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên Bản án Dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil.
- Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn làm trong hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về nội dung giải quyết và yêu cầu kháng cáo:
[2.1]. Xét kháng cáo của bị đơn yêu cầu cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm vì cho rằng việc Tòa án sơ thẩm xét xử vắng mặt bị đơn là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là không có căn cứ để chấp nhận. Bởi, tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án thể hiện Tòa án cấp sơ thẩm đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt, cụ thể: Bị đơn đã nhận quyết định xét xử số 04/2025/QĐXXST-DS ngày 21/02/2025, thời gian mở phiên tòa là 14h ngày 10/3/2025, sau khi nhận quyết định xét xử bị đơn đã gửi đơn khiếu nại cho rằng Tòa án chưa thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ và đã vắng mặt phiên tòa ngày 10/3/2025 nên Hội đồng xét xử đã ban hành Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/QĐST-DS ngày 10/3/2025, thời gian mở lại phiên tòa là 8h ngày 28/3/2025.
Ngày 26/3/2025, bị đơn H có đơn xin hoãn phiên tòa vì lý do có thông báo cưỡng chế thi hành án vào ngày 28/3/2025. Hội đồng xét xử xác định việc vắng mặt của bị đơn thuộc trường hợp trở ngại khách quan nên đã ban hành Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐST-DS ngày 28/3/2025, thời gian mở lại phiên tòa là 8h ngày 17/4/2025. Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn (có phiếu báo phát thành công Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐST-DS ngày 28/3/2025 cho bị đơn vào ngày 29/3/2025 có bị đơn H ký nhận). Nội dung này được làm rõ tại phiên tòa phúc thẩm, theo đó bị đơn thừa nhận đã ký giấy báo phát vào ngày 29/3/2025, đồng thời tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn còn cung cấp bì thư công văn của Tòa án huyện Đ có đóng dấu bưu cục Đăk Mil đề ngày 29/03/2025 nhưng bị đơn cho rằng là nhận văn bản tố tụng của vụ án khác nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời khai của mình.
Do vậy việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ, đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 277 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2.2]. Xét yêu cầu khởi kiện và nội dung giải quyết của cấp sơ thẩm thì thấy: nguyên đơn căn cứ vào giấy nhận nợ ngày 02/2/2023 và văn bản không đề ngày, tháng, năm (nhưng các bên xác nhận là ngày 07/02/2023) khởi kiện yêu cầu bị đơn phải có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn số tiền nợ gốc theo nội dung giấy xác nhận nợ là 910.000.000 đồng. Qúa trình giải quyết vụ án bị đơn thừa nhận có vay tiền của nguyên đơn nhiều lần và chữ ký, chữ viết trong giấy nhận nợ là của bị đơn, nhưng bị đơn cho rằng do nguyên đơn ép buộc bị đơn ký nhận nên bị đơn mới ký, tuy vậy phía bị đơn vẫn chấp nhận trả nợ cho nguyên đơn nhưng xin được trả dần trong nhiều năm. Do các bên không thỏa thuận được với nhau về thời hạn trả nợ và bị đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc xác nhận nợ là do bị đe dọa, cưỡng ép nên việc cấp sơ thẩm tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn số tiền 910.000.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Từ nhận định, phân tích nêu trên xét thấy người kháng cáo không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ nên bác yêu cầu kháng cáo của người kháng cáo theo đề nghị của đại diện viện kiểm sát, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
[4]. Về án phí: Do kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
Căn cứ Điều 26, Điều 33, Điều 35, Điều 39, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 277 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; áp dụng Điều 463; Điều 466, Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu,miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn D và bà Trần Thị Hồng T. Buộc ông Phạm Văn T1 và bà Đinh Thị H phải có nghĩa vụ trả nợ cho ông Trần Văn D và bà Trần Thị Hồng T số tiền nợ gốc là 910.000.000 (chín trăm mười triệu đồng).
Áp dụng Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tính lãi suất chậm trả tiền theo quy định pháp luật.
- Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Phạm Văn T1 và bà Đinh Thị H phải chịu 39.300.000 (ba mươi chín triệu ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông Trần Văn D và bà Trần Thị Hồng T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 19.650.000 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006104 ngày 31/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Buộc bà Đinh Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu án phí, lệ phí Tòa án số 0006389 ngày 13 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Ứng |
Bản án số 85/2025/DS-PT ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 85/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
