Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 85/2024/HS-ST

Ngày 29 tháng 11 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Hiển – Bà Trương Thị Thu Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thảo Vy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1986; nơi sinh: Huyện A, tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú:

Khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng C và bà Phạm Thị L; bị cáo có chồng tên Nguyễn Văn L1 và có 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; về nhân thân: Chưa phát hiện hành vi vi phạm pháp luật nào khác; bị cáo đang tại ngoại và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Trần Văn Đ, sinh năm 1992 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Nguyễn Thị Y, sinh năm 1996 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Cùng cư trú: Tổ A, khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang.

- Người làm chứng: Trần Thị Ngọc M (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 16/7/2024, Nguyễn Thị Y và Trần Văn Đ nhờ Nguyễn Ngọc B đến trông nhà cho Y và Đ thì Ngọc B đồng ý. Khi Y và Đ đi ra khỏi nhà thì Ngọc B nảy sinh ý định lấy trộm tài sản để trả nợ. Ngọc B phát hiện phòng ngủ của Y và Đ không khóa, bèn mở cửa phòng đi vào bên trong đến tủ bằng nhôm, lấy chìa khóa mở hộc tủ lấy số tiền 2.500.000 đồng, bỏ vào túi quần bên phải, rồi đi ra ngoài tiếp tục trông nhà. Đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày Đ và Y về nhà phát hiện tiền để trong tủ bị mất, nên tiến hành kiểm tra camera thì phát hiện Ngọc B vào phòng lấy trộm, nên đến Công an thị trấn V trình báo. Riêng Ngọc B cũng đến Công an thị trấn V đầu thú và giao nộp lại số tiền đã lấy trộm. Ngày 25/8/2024, N Ba bị khởi tố, điều tra.

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: Số tiền 7.571.000 đồng (đã trả lại cho Nguyễn Ngọc B số tiền 5.071.000 đồng và trả cho lại Nguyễn Thị Y số tiền 2.500.000 đồng theo biên bản trả lại tài sản ngày 23/8/2024).

Trong quá trình điều tra và truy tố, những người tham gia tố tụng trong vụ án khai như sau:

- Bị cáo Nguyễn Ngọc B khai nhận phù hợp với nội dung vụ án và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

- Bị hại Nguyễn Thị Y, Trần Văn Đ trình bày phù hợp với nội dung của vụ án. Hiện Y và Đ đã nhận lại số tiền 2.500.000 đồng và không yêu cầu gì thêm.

- Người làm chứng Nguyễn Thị Ngọc M1 trình bày: Ngày 16/7/2024, Mơ có cho Nguyễn Ngọc B mượn số tiền 5.000.000 đồng để đóng hụi. Hiện Mơ đã nhận lại đủ số tiền này.

Tại Cáo trạng số: 77/CT-VKSCP ngày 23 tháng 10 năm 2024: Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Châu Phú để xét xử bị cáo Nguyễn Ngọc B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Ngọc B có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đó thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bản thân Ngọc B rất ăn năn hối hận, xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo để cải thiện bản thân, làm lại công dân tốt và có thời gian để điều trị bệnh.

Bị hại Nguyễn Thị Y và Trần Văn Đ có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú thực hiện quyền công tố tại phiên tòa: Giữ nguyên quyết định như Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, Viện kiểm sát đề nghị:

  • Về trách nhiệm hình sự:
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, các điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 [Điều 65 – theo TB sđ,bs số... ngày...] Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc B từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng.

  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Về án phí: Giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Về Quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
    2. Trong giai đoạn điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

    3. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:
    4. Bị hại và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai ở cơ quan điều tra và phù hợp với nội dung vụ án, nên không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

  2. Về trách nhiệm hình sự:
    1. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại đơn xin xét xử vắng mặt, bị cáo Nguyễn Ngọc B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
    2. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát; phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 16/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Dữ liệu trích xuất camera và vật chứng thu giữ được trong vụ án. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 16/7/2024 bị cáo Nguyễn Ngọc B đã có hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Thị Y và Trần Văn Đ số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

    3. Xét thấy, bị cáo Nguyễn Ngọc B là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
    4. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

    5. Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo nhận thấy:
    6. Bị cáo Nguyễn Ngọc B là người có sức khỏe để lao động nhưng vì lòng tham nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Bị cáo được bị hại tin tưởng nhờ trông coi nhà, nhưng bị cáo đã lợi dụng thời điểm bị hại không có ở nhà, lẻn vào phòng ngủ, tìm ngăn tủ bị hại cất giữ tiền để lấy trộm, từ đó cho thấy thái độ xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tương xứng để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung, đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật.

    7. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
    8. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và truy tố, bị cáo đã khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự nguyện ra đầu thú và giao trả lại toàn bộ số tiền lấy trộm nên chưa gây thiệt hại cho bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo quy định tại điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, từ đó Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

    9. Xét thấy, bị cáo Nguyễn Ngọc B có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có thái độ ăn năn hối cải, có khả năng tự cải tạo, nếu không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
    10. Đối chiếu với các quy định của Nghị quyết số ị quyết 02/2018/NQ-HĐTP" \t "_blank" 02/2018/NQ-HĐTPngày 15/5/2018 và Nghị quyết số ị quyết 01/2022/NQ-HĐTP" \t "_blank" 01/2022/NQ-HĐTPngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bị cáo Ngọc B được hưởng án treo, thời gian thử thách bằng 02 lần mức hình phạt tù áp dụng đối với bị cáo, được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    11. Về hình phạt bổ sung:
    12. Do bị cáo hoàn cảnh khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về biện pháp tư pháp:
  4. Đối với số tiền 7.571.000 đồng, trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc B số tiền 5.071.000 đồng và trả lại cho bị hại Nguyễn Thị Y số tiền 2.500.000 đồng, là đúng quy định tại điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  5. Về án phí:
  6. Bị cáo Nguyễn Ngọc Ba P chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 38, các điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 [Điều 65 – theo TB sđ,bs số... ngày...] Bộ luật Hình sự;

  • Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc B: 06 (Sáu) tháng tù. Cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm, tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/11/2024).
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Ngọc B.
  • Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Nguyễn Ngọc B cho Ủy ban nhân dân xã thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Nguyễn Ngọc B có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục đối với bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
  • Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ vào các điều 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Q;

  • Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc Ba P chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  • Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Ngọc B, bị hại Nguyễn Thị Y và Trần Văn Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại (3);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND huyện Châu Phú (1);
  • - CQCSĐT - CA.H.Châu Phú (1);
  • - Chi cục THADS H.Châu Phú (1);
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh AG (1);
  • - Sở Tư Pháp tỉnh AG (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (1);
  • - Lưu: VT (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Linh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Văn Hiển

Trương Thị Thu Thủy

Nguyễn Duy Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 85/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger