|
TAND HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 85/2024/HS-ST Ngày: 29-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Hồng Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Chiểu
2. Bà Hoàng Thị Thu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Đăng Hiệp - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Văn K - Sinh ngày 13/6/1993, tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân [...], cấp ngày 28/4/2023, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH.
Nơi ở hiện nay: Ấp B, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Bố: Vũ Văn C, sinh năm: 1956; Mẹ: Vũ Thị N, sinh năm: 1957; Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Vợ: Trịnh Thị Công C1 - Sinh năm: 1986 (Đã ly hôn); Con: Bị cáo có 01 người con, sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/6/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y. có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn T, sinh ngày 24/4/2002 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
2
- Người làm chứng: Chị Võ Thị Diễm T1, sinh năm 1992
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Văn K là lao động tự do tại huyện L, tỉnh Đồng Nai, vào tháng 11/2023, K sử dụng mạng xã hội Tiktok có đăng ảnh mặc trang phục Công an nhân dân (Trang phục này do K mua trên mạng xã hội Facebook). Qúa trình sử dụng mạng xã hội thì K quen biết anh Nguyễn Văn T, sinh năm 2002, trú tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa, hiện đang làm Công an tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Qua trò chuyện K biết anh T đang có nguyện vọng đi học Trung cấp cảnh sát nhân dân nên K đã nảy sinh ý định lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của anh T. Khởi giới thiệu mình là Công an, đang công ở thành phố Hồ Chí Minh đồng thời K nói mình có người quen trên Bộ C2 đã từng xin cho K và nhiều người đi học như mong muốn của anh T. Anh T2 hỏi chi phí đi học hết bao nhiêu, K nói “Hết 100 triệu đồng” thì anh T2 đồng ý. Lúc đầu K bảo anh T2 chuyển khoản trước cho K 20.000.000 đồng để K đi gặp mặt người quen xin chủ trương để cho anh T2 được đi học để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Do tin tưởng K nên ngày 21 và 23/12/2023 anh T2 đã chuyển tiền cho K 02 (hai) lần, mỗi lần 10.000.000 đồng từ số tài khoản ngân hàng V số 1037182810 do anh T2 đứng tên vào tài khoản Ngân hàng thương mại cổ phần Q (M) số 1306678678678 do Vũ Văn K đứng tên chủ tài khoản. Sau khi nhận được 20.000.000 đồng một thời gian thì K nói với anh T2 “Đã xin được các xếp cho T2 đi học vào tháng 4/2024”. Từ thời điểm đó anh T2 hoàn toàn tin tưởng ở K và nhiều lần chuyển tiền cho K với số tiền từ 1.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Có lần vào ngày 21/01/2024 để tạo lòng tin với anh T2, sau khi nhận tiền 20.000.000 đồng, K đã chuyển trả lại cho anh T2 nói lý do “Hiện chưa cần”, đến ngày hôm sau 22/01/2024 K lại yêu cầu anh T2 chuyển lại 20.000.000 đồng. Sau 15 (mười lăm) lần anh T2 chuyển tiền cho K, đến ngày 11/3/2024 anh T2 đã chuyển đủ 100.000.000 đồng cho K như thoả thuận ban đầu.
Sau khi nhận đủ 100.000.000 đồng Khởi lấy lý do phải thêm tiền để lo chi phí phát sinh hoặc vay chi tiêu cá nhân nhưng ngày từ đầu K không có ý định trả lại. Do vẫn tin tưởng K nên anh T2 chuyển tiếp cho K 08 (T3) lần với số tiền 28.900.000 đồng, lần nhiều nhất 10.000.000 đồng lần ít nhất 400.000 đồng. Như vậy tổng số tiền anh T2 chuyển cho K là 128.900.000 đồng. Đến ngày 05/4/2024, K yêu cầu anh T2 chuyển thêm tiền, nhưng anh T2 không chuyển, nên K đã khoá Z và cũng không liên
3
lạc bằng điện thoại với anh T2 nữa. Biết mình đã bị K lừa nên anh T2 đến Công an huyện Y tố cáo hành vi lừa đảo của Vũ Văn K. Đến ngày 20/6/2024 Vũ Văn K đến cơ quan Công an đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình
Về trách nhiệm dân sự:
Nguyễn Văn T yêu cầu bị cáo phải bồi thường toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt 128.900.000 đồng, đến nay K vẫn chưa bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 85 ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định đã truy tố bị cáo Vũ Văn K về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g Điều 52; Điều 38, của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Văn K từ 30 đến 36 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt 128.900.000 đồng
Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy các trang phục Công an nhân dân ( Theo QĐ chuyển vật chứng số 53/QĐ- VKSYĐ ) do không còn giá trị sử dụng.
Về án phí: Thực hiện theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố, không tranh luận gì và đều đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị hại tiếp tục yêu cầu bồi thường và không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã bị bị cáo chiếm đoạt là 128.900.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
4
[1] Về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Vũ Văn K đã thừa nhận: vào tháng 11/2023 K lên mạng xã hội kết bạn với anh Nguyễn Văn T, biết anh T là Công an nghĩa vụ có nguyện muốn xin đi học Trung cấp cảnh sát, K đã giới thiệu mình là Công an công tác tại thành phố Hồ Chí Minh có khả năng xin cho anh T đi học theo nguyện vọng với chi phí 100.000.000 đồng. Do tin tưởng, anh T đã chuyển cho K 100.000.000 đồng thì K tiếp tục yêu cầu anh T chuyển thêm 28.900.000 đồng để lo chi phí phát sinh việc xin đi học. Sau khi chiếm đoạt tổng số tiền 128.900.000 đồng của anh T, biết hành vi lừa đảo của mình bị phát hiện nên K đã ngắt liên lạc với anh T.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Vũ Văn K đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại Điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “ Phạm tội 02 lần trỏe lên”, theo quy định tại điểm g Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Vũ Văn K được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” và “ Đầu thú”, quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Các tình tiết này sẽ được xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[4] Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, vị trí, vai trò, nhân thân của người phạm tội và hình phạt:
Đây là vụ án hình sự Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tính chất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, cần thiết phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự.
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, khống có công ăn việc làm ổn định, không có chỗ ở ổn định. Xét thấy, bị cáo không có khả năng tự cải tạo, việc bị
5
cáo ở ngoài cộng đồng gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phien tòa là phù hợp, mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa tội phạm nói chung. Bị cáo K đang bị tạm giam nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án, thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam được tính vào thời gian chấp hành hình phạt.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập thường xuyên nên không bị áp dụng hình phạt bổ sung.
[6] Về các tình tiết liên quan đến vụ án: Trong vụ án này, Vũ Văn K có hành vi đặt mua 01 bộ trang phục Công an nhân dân trên mạng xã hội Facebook để mặc trong quá trình sử dụng Tiktok. Hành vi này của K cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ vụ việc đến cơ quan có thẩm quyền xem xét xử lý hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo chưa bồi thường cho bị hại số tiền chiếm đoạt là 128 900 000 đồng, buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền này.
[8] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 mũ kê pi của lực lượng an ninh nhân có gắn Công an hiệu; 01 dây thắt lưng của lực lượng Công an; 01 bộ quần áo Xuân hè của lực lượng an ninh; 01 bộ ve hàm cấp bậc thượng úy của C3; 01 biển tên Công an nhân dân số 596-592 mang tên Vũ Văn K; 01 đôi giày cỡ 43 màu đen do công ty A sản xuất năm 2022; 01 đôi tất màu xanh của Công an nhân dân do không còn giá trị sử dụng.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 352; Điều 357; Điều 468; Điều 589 Bộ luật dân sự.
- Tuyên bố bị cáo Vũ Văn K, phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn K 32 ( Ba mươi hai ) tháng tù, thời gian tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/6/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
6
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Vũ Văn K phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn T số tiền 128.900.000 đồng ( Một trăm hai mươi tám triệu chín trăm nghìn) đồng.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng: Điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng của vụ án, gồm:
- - 01 mũ kê pi của lực lượng an ninh nhân có gắn Công an hiệu;
- - 01 dây thắt lưng của lực lượng Công an;
- - 01 bộ quần áo Xuân hè của lực lượng an ninh;
- - 01 bộ ve hàm cấp bậc thượng úy của Công an nhân dân;
- - 01 biển tên Công an nhân dân số 596-592 mang tên Vũ Văn K;
- - 01 đôi giày cỡ 43 màu đen do công ty A sản xuất năm 2022;
- - 01 đôi tất màu xanh của lực lượng Công an nhân dân, do không còn giá trị sử dụng.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Về quyền kháng cáo bản án: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành án hoặc thi hành án không đầy đủ thì phải trả lãi với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả với mức lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, theo Phiếu nhập kho số 01/PNK ngày 02/10/2024.
Buộc bị cáo Vũ Văn K phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 6 445 000 ( Sáu triệu bốn trăm bốn lăm nghìn đồng), án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 6.645.000đ (Sáu triệu sáu trăm bốn lăm nghìn đồng)
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Hồng Đức |
7
- Lưu hồ sơ.
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
8
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lê Minh Chiểu Hoàng Thị Thu |
Cao Hồng Đ |
Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 85/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
