Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/HS-ST

Ngày: 25-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Huy Hoàng.
  • Dương Thị Tố Như.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bắc - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 72/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Minh L, sinh ngày: 18/11/1995 tại Lâm Đồng; hộ khẩu thường trú: Tổ A, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nơi ở trước khi bị bắt: Phòng số 4, dãy nhà trọ số A đường Q, tổ C, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 07/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh T, sinh năm 1969 và con bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1975, cùng trú tại tổ A, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; gia đình: có 02 anh em, lớn nhất sinh năm 1992, bị cáo là con nhỏ nhất; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/01/2024 và chuyển tạm giam từ ngày 09/02/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B cho đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ ngày 31/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố B tiến hành kiểm tra phòng số 4, dãy nhà trọ số A đường Q, tổ C, phường L, thành phố B, trong phòng trọ chỉ có Lê Minh L, Công an phát hiện:

  • Tại vị trí kệ nhựa đựng đồ để dưới sàn phòng trọ, hộc thứ hai hướng từ trên xuống có 01 khăn màu xanh kích thước 28cm x 43cm, bên trong có 01 (một) gói nylon vạch kẻ ngang màu đỏ, kích thước 05cm x 8,5cm chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy và 01 (một) gói nylon vạch kẻ ngang màu trắng, kích thước 06cm x 9,5cm chứa 30 (ba mươi) viên nén màu xám nghi là ma túy, hai gói này được bọc bên ngoài bằng mảnh giấy vệ sinh màu trắng kích thước 09cm x 22,5cm. Theo L khai nhận chất tinh thể bên trong gói nylon là ma túy Ketamine và 30 viên nén trong gói nylon là ma túy “kẹo”.
  • Tại vị trí kệ nhựa đựng đồ để dưới sàn phòng trọ, mặt phía trên kệ có 01 hộp màu vàng ghi dòng chữ “PNJ” kích thước 05cm x 4,5cm x 3,5cm, bên trong có 01 (một) gói nylon vạch kẻ ngang màu xanh, kích thước 03cm x 03cm chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Theo L khai nhận chất tinh thể bên trong gói nylon là ma túy Ketamine.
  • Tại vị trí bàn gỗ trên gác lửng phòng trọ có 01 hộp màu đỏ kích thước 10cm x 10cm x 3,2cm, bên trong có 01 (một) gói nylon vạch kẻ ngang màu đỏ, kích thước 05cm x 8,5cm chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 03 (ba) gói nylon vạch kẻ ngang màu xanh, kích thước 03cm x 03cm chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy và 01 (một) gói nylon vạch kẻ ngang màu đỏ, kích 05cm x 08cm chứa 05 (năm) viên nén màu xám nghi là ma túy. Theo L khai nhận chất tinh thể bên trong 04 (bốn) gói nylon là ma túy ketamine và 05 (năm) viên nén trong một gói nylon là ma túy “kẹo”.
  • Tại vị trí mặt tủ gỗ đặt ở sàn phòng trọ có 01 (một) cân tiểu ly điện tử màu đen, kích thước 05cm x 08cm, theo L khai nhận đây là dụng cụ của L sử dụng để chia lẻ ma túy ketamine bán lại cho người khác kiếm lời.

Lê Minh L khai nhận toàn bộ số ma túy ở các vị trí trên trong phòng trọ là của L mua về đang tàng trữ trái phép nhằm mục đích bán lại cho người khác để kiếm lời. Cơ quan điều tra - Công an thành phố B đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Minh L về hành vi “mua bán trái phép chất ma túy”, đồng thời thu giữ, niêm phong các tang vật theo quy định pháp luật.

Quá trình điều tra Lê Minh L khai nhận: Bản thân L làm ăn thua lỗ số tiền khoảng 300.000.000đ và hiện nay không có khả năng chi trả, để có tiền trả nợ thì L đã nảy sinh ý định mua ma túy về để bán lại cho người khác kiếm lời. Khoảng tháng 12/2023, Lê Minh L sử dụng điện thoại di động Iphone XR gắn sim số “0286365336” liên lạc qua ứng dụng Telegram với 01 người tên K (nhà ở TP .) mua ma túy gồm 40g Ketamine và 45 viên ma túy “Kẹo” với giá khoảng 38.000.000₫ (gồm 8.100.000đ tiền ma túy “Kẹo” và 26.800.000đ tiền ma tuý Ketamine, còn lại 3.100.000đ là tiền vận chuyển từ TP . về TP .), sau đó K nhờ người mang ma túy đến khu vực gần giao lộ T - N, phường L, thành phố B giao cho L. Sau khi mua ma túy, L mang số ma túy trên về phòng số 4, dãy nhà số A đường Q, tổ C, phường L, thành phố B dùng cân tiểu ly chia lẻ ma túy Ketamine và “Kẹo” vào nhiều gói nylon nhỏ. L bán cho 03 người nghiện ma túy ở thành phố B với tổng số 10 viên ma túy “Kẹo” và khoảng 04g ma túy Ketamine với tổng giá tiền 6.800.000₫ (L chưa thu được tiền bán ma túy do những người mua nợ). Số ma túy còn lại gồm 35 viên ma túy “Kẹo” và khoảng hơn 30g ma túy Ketamine Lợi cất giấu trong phòng số 4, dãy nhà trọ số nhà A, đường Q, tổ C, phường L, thành phố B mục đích để tiếp tục bán lại cho các con nghiện khác để kiếm lời thì bị Công an thành phố B kiểm tra phòng trọ phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang như trên.

Tại bản kết luận giám định số 214 ngày 06/02/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh L xác định:

  • Mẫu tinh thể (M1) đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy có khối lượng 10,0798g loại Ketamine;
  • Mẫu 30 viên nén (M2) đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy có khối lượng 12,4207g loại MDMA;
  • Mẫu tinh thể (M3) đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,3068g loại Ketamine;
  • Mẫu tinh thể (M4) đựng trong 04 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy có khối lượng 13,2749g loại Ketamine;
  • Mẫu 05 viên nén (M5) đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy có khối lượng 2,0636g loại MDMA (BL: 39).

Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã thu giữ 02 phong bì niêm phong sau giám định số 214/2024-PC09, 01 ĐTDĐ Iphone XR màu bạc gắn sim số 0386365336, 01 khăn màu xanh kích thước (28x43)cm, 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng kích thước (09x22,5)cm, 01 hộp màu vàng ghi dòng chữ “PNJ” kích thước (05x4,5x3,5)cm, 01 hộp màu đỏ kích thước (10x10x3,2)cm, 01 cân tiểu ly điện tử màu đen kích thước (05x08)cm.

Cáo trạng số: 73/CT-VKSBL ngày 09/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố Lê Minh L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • Bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
  • Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Minh L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 10 đến 11 năm tù.
  • Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: Khối lượng ma túy còn lại sau giám định đựng trong 02 phong bì niêm phong sau giám định số 214/2024-PC09; 01 khăn màu xanh kích thước (28x43)cm, 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng kích thước (09x22,5)cm, 01 hộp màu vàng ghi dòng chữ “PNJ” kích thước (05x4,5x3,5)cm, 01 hộp màu đỏ kích thước (10x10x3,2)cm, 01 cân tiểu ly điện tử màu đen kích thước (05x08)cm.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 ĐTDĐ Iphone XR màu bạc gắn sim số 0386365336.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ thu thập trong hồ sơ. Có đủ cơ sở kết luận:

Do làm ăn thua lỗ số tiền khoảng 300.000.000đ, để có tiền trả nợ thì Lê Minh L đã nảy sinh ý định mua ma túy về để bán lại cho người khác kiếm lời. Khoảng tháng 12/2023, L sử dụng điện thoại di động Iphone XR gắn sim số “0286365336” liên lạc qua ứng dụng Telegram với 01 người tên K (nhà ở Tp .) mua ma túy gồm 40g Ketamine và 45 viên ma túy “Kẹo” với giá 38.000.000đ (gồm 8.100.000đ tiền ma túy “Kẹo” và 26.800.000đ tiền ma tuý Ketamine, còn lại 3.100.000₫ là tiền vận chuyển từ TP . về TP .). Sau khi nhận đủ số ma túy mà K giao cho thì L mang về phòng số 4, dãy nhà số A đường Q, tổ C, phường L, thành phố B dùng cân tiểu ly chia lẻ ma túy Ketamine và “Kẹo” vào nhiều gói nylon nhỏ. L bán cho 03 người nghiện ma túy ở thành phố B 10 viên ma túy “Kẹo” và khoảng 04g ma túy Ketamine với tổng giá tiền 6.800.000đ (L chưa thu được tiền bán ma túy do những người mua nợ). Số ma túy còn lại thì L cất giấu trong phòng số 4, dãy nhà trọ số nhà A, đường Q, tổ C, phường L, thành phố B với mục đích để tiếp tục bán lại cho các con nghiện khác để kiếm lời. Đến lúc 14 giờ ngày 31/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố B tiến hành kiểm tra phòng trọ phát hiện và lập biên bản bắt quả tang L như trên. Trong khi bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. MDMA là chất ma túy nằm trong Danh mục IB, STT: 11; còn Ketamine là chất ma túy nằm trong Danh mục III, STT: 40, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ.

Như vậy, tổng khối lượng chất ma túy mà Lê Minh L phải chịu trách nhiệm cho hành vi “mua bán trái phép chất ma túy” được xác định là 23,6615g ma túy loại Ketamine và 14,4843g ma túy loại MDMA.

  • Tỷ lệ phần trăm khối lượng của ma túy loại Ketamine so với mức tối thiểu đối với ma túy Ketamine quy định tại khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là 23,66%.
  • Tỷ lệ phần trăm khối lượng của ma túy loại MDMA so với mức tối thiểu đối với ma túy MDMA quy định tại khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là 48,28%.

Tổng cộng tỷ lệ phần trăm khối lượng của 02 chất ma túy trên là 71,94% < 100%. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì thuộc trường hợp quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Vì vậy, hành vi nêu trên của Lê Minh L đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

  • Nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
  • Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt chính: Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Nếu không bài trừ sớm thì việc sử dụng ma túy còn có thể là nguyên nhân dẫn đến một số tệ nạn xã hội khác như trộm cắp, cướp giật, thậm chí có trường hợp người sử dụng ma túy không làm chủ được bản thân đã gây ra nhiều vụ trọng án như gần đây làm dư luận rất hoang mang. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy được tác hại của ma túy nhưng vì vụ lợi vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc, nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện tu dưỡng, rèn luyện thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có thu nhập, không có chức vụ, nghề nghiệp không liên quan đến hành vi phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng:

  • Đối với khối lượng ma túy còn lại sau giám định đựng trong 02 phong bì niêm phong sau giám định số 214/2024-PC09; 01 khăn màu xanh kích thước 28 x 43cm; 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng kích thước 09 x 22,5cm, 01 hộp màu vàng ghi dòng chữ “PNJ” kích thước 05 x 4,5 x 3,5cm; 01 hộp màu đỏ kích thước 10 x 10 x 3,2cm và 01 cân tiểu ly điện tử màu đen kích thước 05 x 08cm. Xét thấy, đây là số ma túy mà đã mua bán, cũng như công cụ để cất giấu ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XR màu bạc, gắn sim số 0386365336. Xét thất, đây là công cụ mà bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[7] Về các vấn đề khác:

  • Đối với đối tượng tên Ken nhà ở thành phố Hồ Chí Minh là người mà Lê Minh L khai nhận đã bán ma túy cho L và những người đã có hành vi đến dãy nhà trọ số 19 đường Q, tổ C, phường L, thành phố B mua ma túy của Lê Minh L, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra Công an thành phố B tách ra để tiếp tục xác minh, xử lý là có căn cứ và đúng pháp luật.
  • Đối với chị Lê Thị Thủy T1 là người thuê phòng số 4 nhà trọ số A đường Q, tổ C, phường L, thành phố B (nơi bị cáo bán ma túy) và ông Nguyễn Văn H là chủ dãy nhà trọ số19 đường Q, tổ C, phường L, thành phố B, quá trình điều tra xác định chị T1 và ông H không biết, không giúp sức cho L mua bán trái phép chất ma túy nên việc Cơ quan điều tra Công an thành phố B không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Lê Minh L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Lê Minh L 09 (Chín) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/01/2024.

    Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • * Tịch thu tiêu hủy:
      • Khối lượng ma túy còn lại sau giám định đựng trong 02 (hai) phong bì niêm phong số 214/2024-PC09.
      • 01 (một) khăn màu xanh kích thước 28cm x 43cm.
      • 01 (một) mảnh giấy vệ sinh màu trắng kích thước 09cm x 22,5cm.
      • 01 (một) hộp màu vàng ghi dòng chữ “PNJ” kích thước 05cm x 4,5cm x 3,5cm.
      • 01 (một) hộp màu đỏ kích thước 10cm x 10cm x 3,2cm.
      • 01 (một) cân tiểu ly điện tử màu đen, kích thước 05cm x 08cm.
    • * Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
      • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XR màu bạc, gắn sim số 0386365336.

      (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc).

  4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Lê Minh L phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Lâm Đồng (2);
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (1);
  • - VKSND TP. Bảo Lộc (1);
  • - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng (1);
  • - Công an TP. Bảo Lộc (1);
  • - Chi cục THA dân sự TP. Bảo Lộc (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ninh Khắc Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 85/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Minh L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger