Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SƠN DƯƠNG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/HS-ST

Ngày 20 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tăng Thị Hường

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sơn Hải

Ông Nguyễn Danh Long

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Hồng Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tiến Tùng- Kiểm sát viên.

Ngày 20/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 87/2024/TLST-HS, ngày 22 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2024/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nịnh Văn X, sinh ngày 01/10/1968, tại huyện Y, tỉnh Tuyên Quang;

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 5/10; Dân tộc: Cao lan; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nịnh Văn T, sinh năm 1943 và bà Trần Thị S, sinh năm: 1942; vợ Trần Thị M, sinh năm1969, con: có 02 con, lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh năm: 1991.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/5/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Hải H, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang (Cán bộ đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện S). Vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Nông Xuân V, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (Cán bộ đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện S). Vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt;
  2. Anh Trần Văn D, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (C1 Công an huyện S). Vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt;
  3. Ông Bùi Đắc B, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên toà;
  4. Ông Ngô Hải N, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên toà;
  5. Ông Bùi Đắc M1, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 08/5/2024, Nịnh Văn X một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anlpha, màu xanh, biển số 22B1-897.13, khi đi đến Km31+200m, đường Đ thuộc thôn C, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang thì va chạm với xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, biển số 22S1-080.14 do ông Hoàng Văn L, sinh năm 1959, trú tại tổ dân phố H, thị trấn S, huyện S điều khiểu đi ngược chiều. Hậu quả, ông L bị thương ở bả vai trái và được người dân đưa đi điều trị tại Trung tâm y tế huyện S. X không bị thương và ở lại hiện trường.

Nhận được thông tin về vụ việc tai nạn giao thông, lãnh đạo Công an huyện S phân công đồng chí Đại uý Nguyễn Hải H, đồng chí Đại uý Nông Xuân V - Cán bộ đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện S mặc trang phục của lực lượng Cảnh sát giao thông (màu vàng) và đồng chí Trung uý Trần Văn D - Cán bộ đội Kỹ thuật hình sự Công an huyện S mặc trang phục Cảnh sát nhân dân (màu xanh) đến hiện trường xác minh giải quyết vụ việc. Khi đến hiện trường tổ công tác tiến hành kiểm tra nồng độ cồn của Nịnh Văn X, kết quả nồng độ cồn của X là 0,860 miligam/01 lít khí thở.

Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, tổ công tác tiến hành khám nghiệm trường vụ tai nạn giao thông theo chỉ dẫn của người làm chứng anh Lương Văn D1Nguyễn Văn C. Quá trình khám nghiệm hiện trường, Nịnh Văn X nhiều lần có hành vi cản trở tổ công tác, cụ thể:

X đã dùng tay cầm số khám nghiệm (số B) được đặt trên xe mô tô biển số 22B1-897.13 ném xuống rãnh thoát nước bên trái đường (theo hướng từ thị trấn S đi xã B); xô, đẩy cán bộ trong tổ công tác để dựng xe mô tô biển số 22B1-897.13 lên rời khỏi hiện trường không cho tổ công tác khám nghiệm hiện trường và có hành vi dùng tay phải đánh 01 nhát vào vùng cổ bên phải đồng chí Nguyễn Hải H làm rơi sổ khám nghiệm hiện trường. Thấy X có hành vi chống người thi hành công vụ nên tổ công tác đã tiến hành khống chế, đưa X ra khỏi khu vực hiện trường và báo cáo sự việc đến Công an huyện S để phối hợp giải quyết.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, đồng chí Nông Xuân V đã sử dụng 01 điện thoại di động ghi hình quá trình khám nghiệm hiện trường và quá trình Nịnh Văn X thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ. Cơ quan điều tra đã thu giữ, niêm phong 01 đĩa DVD-R chứa 02 file dữ liệu video hình ảnh được trích xuất từ điện thoại trên.

Tại Kết luận giám định số 835/KL-KTHS ngày 02/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong 02 file video gửi giám định; đặc điểm về người, hành động của những người có liên quan, nội dung diễn biến vụ việc được mô tả chi tiết trong bản ảnh giám định.

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể đồng chí Nguyễn Hải H không phát hiện dấu vết trên thân thể. Ngày 21/5/2024, ông Hoàng Văn L có đơn từ chối giám định sức khoẻ.

* Về vật chứng: Quá trình điều tra tạm giữ: 01 (một) mảnh nhựa cong gập (số khám nghiệm), màu vàng, in số 2, phần dưới của hai mặt gập có in thước tỷ lệ. Tổng kích thước chiều dài 02 mặt cong gập là 15 cm, chiều rộng 09 cm.

* Về trách nhiệm dân sự:

- Ngày 21/5/2024 tại gia đình bà Bùi Thị H1 (vợ ông Hoàng Văn L) ở tổ dân phố H, thị trấn S, huyện S, anh Nịnh Văn A (con trai Nịnh Văn X) đã thoả thuận giải quyết dân sự vụ tai nạn giao thông và Nịnh Văn A hỗ trợ gia đình ông Hoàng Văn L số tiền 10.000.000đ và thống nhất sau này có vấn đề phát sinh 2 bên sẽ thống nhất tự thoả thuận, không nhờ đến cơ quan pháp luật giải quyết.

- Đồng chí Nguyễn Hải H không yêu cầu đề nghị Nịnh Văn X bồi thường gì.

Từ nội dung trên, tại Cáo trạng số 90/CT-VKSSD, ngày 19/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Nịnh Văn X về tội Chống người thi hành công vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nịnh Văn X tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra. Nguyên nhân xảy ra vụ việc là do bị cáo trong tình trạng đã sử dụng rượu, sợ bị lực lượng Công an xử lý về hành vi vi phạm quy định trong tham gia giao thông nên bị cáo đã có những hành vi chống đối, cản trở không cho lực lượng Công an tiến hành khám nghiệm hiện trường.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hải H vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho anh số khám nghiệm 02 để anh bàn giao lại cho cơ quan để phục vụ công tác.

- Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

+ Tuyên bố: Bị cáo Nịnh Văn X phạm tội Chống người thi hành công vụ.

+ Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nịnh Văn X từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù giam.

- Về xử lý vật chứng: Trả lại cho anh Nguyễn Hải H: 01 (một) mảnh nhựa cong gập (số khám nghiệm), màu vàng, in số 2, phần dưới của hai mặt gập có in thước tỷ lệ. Tổng kích thước chiều dài 02 mặt cong gập là 15 cm, chiều rộng 09 cm.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nghĩa vụ chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Kết thúc phần tranh tụng, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo thực sự ăn năn hối hận về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 08/5/2024 tại thôn C, xã H, huyện S, khi tổ công tác Công an huyện S (mặc đúng trang phục theo quy định của Công an nhân dân) tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ việc tai nạn giao thông xảy ra vào hồi 16 giờ 30 phút cùng ngày, Nịnh Văn X đã có hành vi ném số khám nghiệm (số 02) được đặt trên xe mô tô biển số 22B1-897.13; xô, đẩy cán bộ trong tổ công tác và dùng tay đánh Đại uý Nguyễn Hải H- cán bộ đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện S đang làm nhiệm vụ khám nghiệm hiện trường nhằm cản trở việc thực hiện nhiệm vụ của tổ công tác.

Hành vi của Nịnh Văn X đã phạm vào Tội “Chống người thi hành công vụ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng là có căn cứ pháp luật.

[2] Về tính chất của hành vi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến việc thực hiện nhiệm vụ của người đang thi hành công vụ, xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự an toàn công cộng, làm mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi chống người thi hành công vụ là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do vậy, cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần này là “phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, sau khi phạm tội trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy: cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam trong thời gian nhất định như đề nghị của Viện kiểm sát để có thể giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Hải H không yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về vật chứng:

- Đối với 01 (một) mảnh nhựa cong gập (số khám nghiệm), màu vàng, in số 2, phần dưới của hai mặt gập có in thước tỷ lệ. Tổng kích thước chiều dài 02 mặt cong gập là 15 cm, chiều rộng 09 cm. Cần trả lại cho anh Nguyễn Hải H để bàn giao lại cho cơ quan phục vụ công tác.

- Đối với 01 đĩa DVD-R chứa 02 file dữ liệu video hình ảnh được trích xuất từ điện thoại di động của anh Nông Xuân V được niêm phong kèm theo hồ sơ vụ án.

[6] Các vấn đề khác:

Đối với hành vi của Nịnh Văn X điều khiển xe mô tô hai bánh từ 50-175cm³ mang biển số 22B1-897.13 đi không đúng phần đường gây tai nạn giao thông; điều khiển xe trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 0,4miligam/1 lít khí thở. Ngày 04/6/2024, Công an huyện S đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính mức tiền phạt 11.500.000đ và tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe Hạng A1, số [...], nơi cấp Sở Giao thông vận tải tỉnh T 23 tháng (từ ngày 04/6/2024 đến 04/5/2026), Nịnh Văn X đã nộp phạt ngày 18/6/2024. Xét thấy phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi của ông Hoàng Văn L điều khiển xe mô tô hai bánh từ 50-175cm³ mang biển số 22S1-080.14 không có giấy phép lái xe; không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông đường bộ; tránh xe không đúng quy định gây tai nạn giao thông. Ngày 04/6/2024, Công an huyện S đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt tiền 6.500.000đ, ông L đã nộp phạt ngày 18/6/2024. Xét thấy phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình điều tra và truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng; bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

  1. Về tội danh: Tuyên bố Bị cáo Nịnh Văn X phạm tội: “Chống người thi hành công vụ”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nịnh Văn X 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 09/5/2024).
  3. Về vật chứng: Trả lại cho anh Nguyễn Hải H 01 (một) mảnh nhựa cong gập (số khám nghiệm), màu vàng, in số 2, phần dưới của hai mặt gập có in thước tỷ lệ. Tổng kích thước chiều dài 02 mặt cong gập là 15 cm, chiều rộng 09 cm được đựng trong 01 (một) túi niêm phong mã số NS3 2119875.

    (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương).

  4. Về án phí và quyền kháng cáo:

    Bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

    Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (20/8/2024); người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Sơn Hải - Nguyễn Danh Long

Tăng Thị Hường

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND huyện Sơn Dương;
  • - Công an huyện Sơn Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Sơn Dương;
  • - UBND xã Tiến Bộ, huyện Yên Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tăng Thị Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về vụ án hình sự về tội chống người thi hành công vụ

  • Số bản án: 85/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Chống người thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nịnh Văn X chống người thi hành công vụ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger