Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/HS-ST

Ngày 16-12-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Thu Hường.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Tiến Bộ.

ông Nghiêm Xuân Hoả.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Duy Quang – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Duy Luân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu T, sinh năm 2004 sinh tại: xã A, huyện M, thành phố Hà Nội;

Nơi cư trú: thôn Đ, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội; quốc tịch Việt Nam, dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; nghề nghiệp: sinh viên trường Cao đẳng K; trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Nguyễn Hữu H và bà Nguyễn Thị H1; vợ, con: chưa có; TATS: theo danh chỉ bản số 241 ngày 06/9/2024 của Công an huyện M lập và lý lịch địa phương cung cấp xác định bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo tại ngoại được áp dụng biệp pháp C đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người bị hại:

+ Anh Trần Đức H2, sinh năm 2002.

Địa chỉ: thôn Đ, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1967.

Địa chỉ: thôn Đ, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội.

+ cháu Nguyễn Đức Thành L, sinh ngày 01/3/2010.

Địa chỉ: thôn Đ, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Đức Thành L:

+ ông Nguyễn Đức C1, sinh năm 1982.

Địa chỉ: thôn Đ, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội.

+ bà Trương Thị T1, sinh năm 1984.

Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.

Tại phiên toà anh Trần Đức H2, bà Nguyễn Thị H1, cháu Nguyễn Đức Thành L và bà Trương Thị T1 có mặt; ông Nguyễn Đức C1 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: ngày 21/01/2024, Công an xã A nhận được Đơn trình báo của anh Trần Đức H2, sinh năm 2002, trú tại: thôn Đ, xã A, huyện M, TP Hà Nội về việc bị một nam thanh niên cướp giật 01 chiếc điện thoại OPPO F11 màu tím của H2 tại khu vực đình làng thôn Đ, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội.

Ngày 21/01/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường tại nơi xảy ra vụ việc ở Đình làng thôn Đ, xã A, huyện M theo quy định của pháp luật.

Cơ quan điều tra tiến hành rà soát Camera trích cứu và thu giữ:

  • - 01 đĩa CD có chứa video dữ liệu từ Camera của gia đình anh Đinh Công T2, sinh năm 1981, trú tại thôn Đ, xã A, huyện M.
  • - 01 đĩa CD có chứa video dữ liệu từ Camera của gia đình ông Trần Văn H3, sinh năm 1979, trú tại thôn Đ, xã A, huyện M.

Qua công tác truy xét xác định đối tượng lấy điện thoại của Trần Đức H2 là Nguyễn Đức Thành L, sinh ngày 01/3/2010, trú tại thôn Đ, xã A, huyện M, TP Hà Nội. L thực hiện hành vi theo lời của Nguyễn Hữu T, sinh năm 2004, trú tại thôn Đ, xã A, huyện M, TP Hà Nội. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập T và L về trụ sở để làm việc.

Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ:

  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, màu tím, số IMEI I: 869035049907450, số IMEI 2: 869035049907443 đã qua sử dụng (là điện thoại L lấy của H2 rồi đưa cho T).
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu VSMART, màu đen, số IMEI 1355173111154395, số IMEI 2: 355173111154403, đã qua sử dụng của Nguyễn Hữu T.
  • - 01 xe mô tô BKS: 29Y1-642.70, nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, không có gương chiếu hậu đã qua sử dụng, đăng ký sử dụng Nguyễn Hữu T.

Quá trình điều tra làm rõ như sau:

Xuất phát từ việc Nguyễn Hữu T, sinh năm 2004, trú tại thôn Đ, xã A, huyện M có nhờ Trần Đức H2 vay số tiền 500.000 đồng trên web “doctordong.vn” nhưng không có tiền trả. Trần Đức H2 nhiều lần liên tục gọi điện thoại để đòi số tiền vay giúp T, nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại của Trần Đức H2 để H2 không thể gọi điện thoại nữa. Khoảng 07h30 phút ngày 21/01/2024, Nguyễn Hữu T rủ Nguyễn Đức Thành L, sinh ngày 01/3/2010, trú tại thôn Đ, xã A, huyện M, TP Hà Nội về nhà Trọng chơi. Tại đây, T nói muốn lấy chiếc điện thoại của H2 nên đã bàn bạc và bảo L đeo khẩu trang, đội mũ khi nào T đưa điện thoại mượn của H2 cho L chụp ảnh thì L cầm điện thoại chạy đi và đưa lại cho T. L đồng ý. Sau đó, T gọi điện thoại hẹn H2 ra Đình làng thôn Đ nói chuyện. T điều khiển xe máy Honda Wave màu đen BKS: 29Y1-642.70 chở L ngồi sau ra Đình làng. Khi gặp nhau nói chuyện, T bảo H2 chụp ảnh cùng và bảo H2 đưa điện thoại OPPO F11 màu tím của H2 cho L chụp ảnh hộ. L chụp một vài kiểu rồi bất ngờ cầm điện thoại bỏ chạy ra đường D về hướng cây xăng Đ, xã A rồi chạy vào ngõ S. H2 hô hoán và đuổi theo L nhưng không kịp, sau đó đến Công an xã trình báo. T điều khiển xe máy đi vào ngõ A đón L, lấy điện thoại từ L đưa rồi chở L về đình thôn Đ còn T đi ra thẳng ra nơi trọ ở trung tâm thành phố Hà Nội. Trên đường đi, Trọng tháo chiếc sim trong điện thoại vừa chiếm đoạt được vứt đi, sau đó gọi mesenger cho L bảo L đến gặp H2 nói điện thoại của H2 do T đang cầm và sẽ trả điện thoại cho H2 sau. Khi Công an xã A triệu tập làm việc, T về trình diện và khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Ngày 22/01/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện M có yêu cầu định giá tài sản số 205/YC-ĐTTH yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M định giá giá trị tài sản là 01 chiếc điện thoại di động OPPO F11 màu tím mua tháng 9/2019.

Ngày 25/01/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự có Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐ ĐGTS, kết luận: “01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 (Ram 6GB; bộ nhớ 64GB) màu tim mua tháng 9/2019 là 733.000 đồng”.

Ngày 08/10/2024, Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản làm việc phân tích hình ảnh trong đoạn video thu giữ từ camera của gia đình anh Đinh Công T2, kết quả xác định có hình ảnh: Nguyễn Đức Thành L và Nguyễn Hữu T chạy vào ngõ A gần cây xăng Đ để rời khỏi hiện trường sau khi lấy được điện thoại của Trần Đức H2.

Ngày 20/02/2024, Trần Đức H2 là chủ sở hữu có đơn xin lại chiếc điện thoại OPPO F11 màu tím nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại trên cho H2.

Tại bản Cáo trạng số 73/CT-VKS-MĐ ngày 04/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Hữu T về tội: Cướp giật tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: do bị anh H2 gọi điện nhiều lần đòi tiền vay hộ bị cáo nên bị cáo muốn chiếm đoạt chiếc điện thoại của anh Trần Đức H2 để anh H2 không tiếp tục gọi điện cho bị cáo. Bị cáo đã bàn bạc với Nguyễn Đức Thành L và nhờ L tiếp cận và cầm điện thoại của anh H2 chạy đi và đưa lại cho bị cáo. Khoảng 7h30 phút ngày 21/01/2024, tại khu vực đình làng thôn Đ, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội L đã chiếm đoạt chiếc điện thoại của anh Trần Đức H2 và đưa lại cho bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu T đã đủ yếu tố cấu thành tội: Cướp giật tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Hữu T từ 18 đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách từ 36 đến 42 tháng.
  • - Về hình phạt bổ sung: không áp dụng đối với bị cáo do không có điều kiện thi hành án.
  • - Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe máy BKS: 29Y1-642.70, nhãn hiệu H4, tại cơ quan điều tra Nguyễn Hữu T xuất trình đăng ký mang tên Nguyễn Hữu T. Tại phiên toà hôm nay bị cáo và bà Nguyễn Thị H1 (mẹ đẻ của bị cáo) trình bày: nguồn tiền mua xe là của bà H1 do bị cáo vừa đi học, vừa đi làm phụ giúp kinh tế cho gia đình nên bà H1 đã vay mượn tiền để mua chiếc xe trên. Do bà không có Giấy phép lái xe nên đã giao xe cho bị cáo để bị cáo đăng ký và sử dụng, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe trên cho bà H1.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VSMART, bên trong không có sim, T khai nhận là của T đã sử dụng được hai năm và bản thân sử dụng một số điện thoại này để liên lạc trong sinh hoạt, cần trả lại cho bị cáo.

  • - Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Đức H2 đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì về trách nhiệm dân sự.
  • - Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình là sai và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên huyện M trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Xét lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Hữu T tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai người bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 21/01/2024, với mục đích muốn chiếm đoạt chiếc điện thoại của anh Trần Đức H2 để anh H2 không tiếp tục gọi điện đòi tiền đã vay hộ bị cáo. Tại khu vực đình làng thôn Đ, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội bị cáo đã bàn bạc với Nguyễn Đức Thành L để L tiếp cận và lợi dụng anh H2 không chú ý đã cầm chiếc điện thoại của anh H2 chạy đi sau đó L đưa lại cho T. Giá trị chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO F11 bị cáo chiếm đoạt của anh Trần Đức H2 là 733.000đ. Khi thực hiện hành vi phạm tội Nguyễn Đức Thành L mới 13 tuổi 09 tháng 20 ngày nên căn cứ Điều 12 Bộ luật hình sự, L chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội Cướp giật tài sản theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự. Đối với hành vi bị cáo Nguyễn Hữu T thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội Cướp giật tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự, Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình nhưng cố ý vi phạm. Do vậy, phải áp dụng hình phạt tương xứng đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, giữ vai trò chính trong vụ án là Nguyễn Hữu T, bị cáo là người bị khởi xướng, rủ rê Nguyễn Đức Thành L. Với mục đích chiếm đoạt chiếc điện thoại của anh Trần Đức H2 để anh H2 không gọi điện đòi tiền bị cáo nợ, bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại của anh H2, sau khi chiếm đoạt được bị cáo tháo sim vứt đi.

[5] Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo trong vụ án này Hội đồng xét xử thấy: bị cáo không có tình tiết tăng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ngay sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã giao nộp lại tài sản để trả lại cho người bị hại nên chưa gây thiệt hại, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt nhỏ (733.000đ); hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, mẹ của bị cáo mắc nhiều bệnh (hen suyễn, ung thư da) phải điều trị dài ngày nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định điểm h, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Khi quyết định hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: thực hiện hành vi phạm tội do thiếu hiểu biết về pháp luật thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản mục đích chỉ để người bị hại không tiếp tục gọi điện đòi nợ mà không có ý thức hưởng lợi tài sản. Bản thân bị cáo trẻ tuổi, hiện đang là sinh viên năm thứ 3 của Trường cao đẳng K. Ngoài giờ học bị cáo còn đi làm thêm để phụ giúp gia đình và có thêm chi phí để theo học. Để tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục học tập, rèn luyện để trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để miễn áp dụng hình phạt tù có điều kiện theo Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao cũng đủ răn đe, giáo dục và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo hiện đang đi học, kinh tế khó khăn, không có điều kiện để thi hành nên không áp dụng.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 xe mô tô BKS: 29Y1-642.70, nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, số khung: RLHJA3926PY710202; số máy: JA39E3038142, qua xác minh, đăng ký sở hữu là Nguyễn Hữu T. Tra cứu xe máy không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng, tại phiên toà bị cáo và bà Nguyễn Thị H1 là mẹ đẻ của bị cáo trình bày nguồn tiền để mua chiếc xe là của bà, bà mua xe và giao cho bị cáo để cho bị cáo có phương tiện để đi học, đi làm thêm để phụ giúp cho gia đình. Hiện hoàn cảnh kinh tế gia đình bà rất khó khăn nên cần trả lại cho bà H1.
  • - Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VSMART, bên trong không có sim, T khai nhận là của T đã sử dụng được hai năm và bản thân sử dụng một số điện thoại này để liên lạc trong sinh hoạt, cần trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với 01 điện thoại OPPO F11 bị cáo chiếm đoạt của anh Trần Đức H2, cơ quan điều tra đã trả lại cho anh H2 là đúng quy định của pháp luật.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Đức H2 đã nhận lại tài sản, không có đề nghị gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Bị cáo phải chịu án phí HSST theo Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và những người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 171; Điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Trọng phạm T3: Cướp giật tài sản.
    • - Xử phạt: Nguyễn Hữu T 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án.
    • Giao bị cáo Nguyễn Hữu T cho UBND xã A, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
    • Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  2. Về xử lý vật chứng:
    • Trả lại cho bà Nguyễn Thị H1 01 xe mô tô BKS: 29Y1-642.70, nhãn hiệu Honda Wave.
    • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hữu T 01 điện thoại VSMART, bên trong không có sim, số IMEI 1: 355173111154395, số IMEI 2: 355173111154403 đã qua sử dụng

(Hiện trạng tài sản như Biên bản giao, nhận vật chứng vụ án ngày 12/12/2024 giữa Công an huyện M và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức).

  1. Về án phí: Áp dụng Điều 136 bộ luật Tố tụng Hình sự và căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án.
    • Bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm
  2. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 bộ luật Tố tụng Hình sự.
    • Án xử công khai sơ thẩm.
    • Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Mỹ Đức;
  • - Cơ quan THAHS huyện Mỹ Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
  • - UBND xã An Mỹ, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội (Thay TBKQXX);
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thu Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 85/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ba HÌNH SỰ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger