|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 85/2024/HS-ST
Ngày: 15/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Thanh Vân
2/ Ông Nguyễn Tống Nê
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kinh Luân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Kha – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2023/TLST- HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Thanh V,
sinh năm 1989, tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: Ấp C, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Con ông Lê Văn R (Chết) và bà Trần Thị P; Bị cáo có vợ Lê Thị Tú T, có 01 con tên Lê Minh T1, sinh ngày 31/5/2023.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên toà).
- Bị hại:
Công ty cổ phần M và bé D JERRY. Địa chỉ: Ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Đại diện theo pháp luật: Ông Mai Quốc D – Tổng giám đốc. Địa chỉ: Ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Ông Mai Quốc D ủy quyền cho bà Trần Thị Thanh T2, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre tham gia tố tụng. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Trần Thị Thanh T2, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
- + Lê Thị Tú T, sinh năm 1987. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. Nơi ở hiện tại: Áp Chánh, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An. (Vắng mặt)
- + Đoàn Thúy A, sinh năm 1990. Địa chỉ: Áp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
- + Phan Thị Xuân U, sinh năm 1987. Địa chỉ: khu phố F, phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt)
- + Đổ Huỳnh Yến N, sinh năm 1996. Địa chỉ: Ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
- + Huỳnh Nguyễn Hồng T3, sinh năm 1996. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
- + Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1995. Địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 50 phút, ngày 10/7/2024 Lê Thanh V, nơi cư trú: ấp C, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An điều khiển xe môtô biển số 62S1-380.51 đến Công ty cổ phần M và bé D JERRY do ông Mai Quốc D, nơi cư trú: ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre làm chủ để mua sữa. Sau khi mua sữa xong V đến quầy để tính tiền thì phát hiện chị Trần Thị Thanh T2, nơi cư trú: 125C, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre là nhân viên của cửa hàng đang kiểm tiền kết sổ từ các quầy thu ngân tại cửa hàng với tổng số tiền là 57.931.000 đồng rồi để trong túi nilong màu trắng có in chữ JERRY và để tại quầy nên V nảy sinh ý định chiếm đoạt. Lợi dụng lúc chị T2 sơ hở V lén lút lấy trộm số tiền trên bỏ vào túi áo khoác rồi tẩu thoát ra ngoài điều khiển xe môtô biển số 62S1-380 chạy về nhà trọ ở Khu Công nghiệp G. Khi về đến nhà trọ V kiểm tra và đếm được số tiền là 57.931.000 đồng.
Sau khi có được tiền V điều khiển xe về quê nhà tại ấp C, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An. Trên đường về quê, V lấy 30.000 đồng mua áo mưa. Khi về đến nhà V đưa cho vợ Lê Thị Tú T, ngụ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre số tiền 51.028.000 đồng và nói là tiền do mình trúng số có được. Chị T lấy 100.000 đồng mua đồ dùng cá nhân, số tiền còn lại thì cất giữ, V giữ lại số tiền 6.873.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Sau khi bị mất tiền chị T2 trích xuất camera tại cửa hàng phát hiện V là người lấy trộm tài sản nên trình báo Công an xã Q.
Vật chứng thu giữ gồm: Số tiền 7.793.000 đồng (trong đó 6.873.000 đồng là tiền trộm tại của hàng; 920.000 đồng là tiền lương của V); Một xe môtô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius màu đỏ đen biển số 62S1-380.51; Một giấy đăng ký xe môtô biển số 62S1-380.51 đứng tên Lê Thanh V; Một điện thoại di động hiệu S A03 màu đỏ, số IMEI 1: 350538282971006, IMEI 2: 359923672971009, sim 1: 0962723065, sim 2: 0869750578; Một túi quai màu nâu; Một căn cước công dân tên Lê Thanh V; Số tiền 130.000 đồng bị cáo V tự nguyện giao nộp. Ngoài ra thu giữ của Lê Thị Tú T số tiền 50.928.000 đồng do V đưa; Một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 số IMEI 1: 352810096931981, IMEI 2: 352811096931989, số sim: 0866107053.
Qua quá trình điều tra bị cáo Lê Thanh V thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bị cáo V một căn cước công dân mang tên Lê Thanh V; trả lại một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 số IMEI 1: 352810096931981, IMEI 2: 352811096931989, số sim: 0866107053 cho chị Lê Thị Tú T do không liên quan tội phạm; trả lại cho đại diện Công ty cổ phần M và bé D JERRY chị Trần Thị Thanh T2 số tiền 57.931.000 đồng. Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số 84/CT-VKSCT ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo Lê Thanh V về “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Lê Thanh V từ 01 – 02 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự. Ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Xử lý vật chứng:
Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bị cáo V một căn cước công dân mang tên Lê Thanh V; trả lại một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 số IMEI 1: 352810096931981, IMEI 2: 352811096931989, số sim: 0866107053 cho chị Lê Thị Tú T do không liên quan tội phạm của bị cáo V.
Trả lại cho bị cáo số tiền 920.000 đồng; 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius màu đỏ đen biển số 62S1-380.51; 01 giấy đăng ký xe môtô biển số 62S1-380.51 đứng tên Lê Thanh V; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03 màu đỏ số IMEI 1: 350538282971006, IMEI 2: 359923672971009, sim 1: 0962723065, sim 2: 0869750578; 01 túi quai màu nâu do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và tại lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Bị cáo không có ý kiến. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy những người vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử và đã có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra nên tiếp tục xét xử là phù hợp quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị hại về vị trí, thời gian và đặc điểm tài sản mà bị cáo chiếm đoạt, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Do động cơ tư lợi bất chỉnh nên khoảng 20 giờ 50 phút, ngày 10/07/2024, Lê Thanh V có hành vi lén lút lấy trộm số tiền 57.931.000 đồng tại Công ty cổ phần M và bé D JERRY thuộc ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre do ông Mai Quốc D làm chủ.
[3] Bị cáo biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vì phạm pháp luật, bị xã hội lên án nhưng vì động cơ tư lợi bất chính, bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, ảnh hưởng xấu đến tỉnh hình trật tự xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện tội phạm, tạo sự bất bình, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.
[4] Lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý, trông coi tài sản, bị cáo đã tiếp cận, thực hiện hành vi lén lút lấy trộm tài sản của bị hại với giá trị tài sản là 57.931.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Thanh Vũ P1 “Tội trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng và quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
[5] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng
[6] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có con nhỏ chưa thành niên được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[7] Xét về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo về địa phương phối hợp cùng với gia đình quản lý, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung nên cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
[9] Xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 920.000 đồng; 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius màu đỏ đen biển số 62S1-380.51; 01 giấy đăng ký xe môtô biển số 62S1-380.51 đứng tên Lê Thanh V; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03 màu đỏ số IMEI 1: 350538282971006, IMEI 2: 359923672971009, sim 1: 0962723065, sim 2: 0869750578; 01 túi quai màu nâu là tài sản của bị cáo, do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bị cáo V một căn cước công dân mang tên Lê Thanh V; trả lại một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 số IMEI 1: 352810096931981, IMEI 2: 352811096931989, số sim: 0866107053 cho chị Lê Thị Tú T.
[10] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Đối với Lê Thị Tú T có hành vi giữ số tiền 51.028.000 đồng do bị cáo V trộm cắp nhưng không biết số tiền trên do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Thanh Vũ P1 “Tội trộm cắp tài sản”.
[1] Áp dụng điểm c, khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Lê Thanh V 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách là 04 ( Bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/11/2024).
Giao bị cáo Lê Thanh V về cho Ủy ban nhân dân xã B phối hợp cùng với gia đình bị cáo giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
[3] Xử lý vật chứng:
Trả lại cho bị cáo Lê Thanh V: số tiền 920.000 đ (Chín trăm hai mươi nghìn đồng); một xe mô tô hai bánh biển số 62S1-380.51 nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius màu đỏ đen, số máy: E32VE-313182, số khung: RLCUE3740MY087419; một giấy đăng ký xe mô tô biển số 62S1-380.51 đứng tên Lê Thanh V; một điện thoại di động Samsung Galaxy A03 màu đỏ số IMEI 1: 350538282971006, số IMEI 2: 359923672971009, sim 1: 0962723065, sim 2: 0869750578; một túi quai màu nâu.
Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bị cáo V: một căn cước công dân mang tên Lê Thanh V; đã trả lại cho chị Lê Thị Tú T: một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 số IMEI 1: 352810096931981, IMEI 2: 352811096931989, số sim: 0866107053.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành và thông báo số 531/TB-ĐTTH ngày 07/11/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C về việc chuyển tiền là vật chứng của vụ án)
[4] Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Lê Thanh V có nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ngọc Trâm |
Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH BẾN TRE về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 85/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử tù bị cáo
