|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 85/2024/HS-ST
Ngày 12-12-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Văn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Hồng Duyên, ông Trần Thanh Vân
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Sỹ Thanh L, tên gọi khác: Không; sinh ngày 21/02/1984, tại: tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Tổ H, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn lớp: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân T (đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1950; Vợ con chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại tổ H, phường Y, thành phố Y, có mặt.
- Người bào chữa: Ông Nguyễn Ngọc L1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Y, có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo đồng thời là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1950
Địa chỉ: Tổ H, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, có mặt.
- Bị hại: Bà Huỳnh Thị T1, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ A, phường M, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, vắng mặt
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thế T2, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ B, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 16/8/2024, L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Hadosiva biển số 21T2-5173 đi giao hàng thuê trong ngõ A đường Y, thành phố Y quan sát thấy cổng nhà số A trong ngõ mở nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Liêm đỗ xe mô tô bên ngoài cổng sau đó đi bộ vào trong nhà. Khi đi đến cánh cửa ngăn giữa phòng khách và phòng ngủ, L gõ cửa nhưng không có ai trả lời nên đã mở cửa để đi vào trong phòng. L nhìn thấy chiếc điện thoại di động Iphone XS Max của bà T1 để ở trên chiếc giường, không có ai trông coi, L đã dùng tay cầm chiếc điện thoại di động trên cho vào túi quần bên trái rồi rời khỏi nhà. Trên đường đi, L đã tháo chiếc sim và ốp của chiếc điện thoại trên vứt xuống đường. Khi đi đến khu vực đường H, L thấy có cửa hàng mua bán điện thoại “Tân Mobile” của anh Nguyễn Thế T2 ở địa chỉ số nhà D, đường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Liêm đi vào cửa hàng và nói với anh T2 chiếc điện thoại Iphone XS Max là của anh trai L do quên mật khẩu mở khóa nên nhờ L đi mở. Sau khi kiểm tra chiếc điện thoại, anh T2 thông báo chi phí mở khóa là 3.000.000 đồng. L hỏi nếu bán điện thoại thì được bao nhiêu tiền thì anh T2 trả lời là 800.000 đồng. Sau đó, Lê Sỹ Thanh L để lại chiếc điện thoại di động trên tại quán của anh T2 rồi bảo để về nhà hỏi anh trai của L. Khoảng 15 giờ ngày 17/8/2024, Lê Sỹ Thanh L đến cửa hàng mua bán điện thoại “Tân Mobile”, đồng ý bán chiếc điện thoại di động L trộm cắp được ngày 16/8/2024 với số tiền 800.000 đồng. Số tiền bán chiếc điện thoại di động L đã chi tiêu cá nhân hết.
* Vật chứng, tài sản thu giữ trong vụ án.
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone XS Max, màu vàng, số Imei 353114100484643, số seri F2LZG5C9KPH3, máy đã qua sử dụng, còn hoạt động bình thường do Nguyễn Thế T2 giao nộp ngày 18/8/2024:
- + 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Hadosiva biển số 21T2-5173, màu nâu, xe có 02 chiếc gương chiếu hậu, xe đã qua sử dụng do Lê Sỹ Thanh L giao nộp ngày 18/8/2024:
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia X1 màu xanh – đen, đã qua sử dụng; 01 chiếc sim điện thoại của nhà mạng Viettel; 01 Giấy xác nhận khuyết tật số hiệu: 15/132/04252/49, được cấp vào tháng 7/2014; 01 sổ lĩnh tiền trợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng, do Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố Y cấp đối với Lê Sỹ Thanh L, số CMND: [...] do Lê Sỹ Thanh L giao nộp ngày 18/8/2024.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐGTS ngày 05/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Y kết luận:
- - Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone XS Max, màu vàng, số Imei 353114100484643, số seri F2LZG5C9KPH3, máy đã qua sử dụng, còn hoạt động bình thường có giá trị tại thời điểm bị trộm cắp 16/8/2024 là: 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
- - Đối với chiếc ốp điện thoại bằng nhựa, màu đen, có giá trị tại thời điểm bị trộm cắp ngày 16/8/2024 là: không đồng.
- - Đối với chiếc sim điện thoại di động, số thuê bao 0888176858, nhà mạng Vinaphone có giá trị tại thời điểm bị trộm cắp ngày 16/8/2024 là: không đồng.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 150/KLGĐ ngày 11/10/2024 của Trung tâm P tại khu vực miền núi phía Bắc kết luận:
- Lê Sỹ Thanh L bị bệnh Chậm phát triển tâm thần nhẹ, bệnh có mã F70 (Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 về các rối loạn tâm thần và hành vi).
- Tại thời điểm thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” ngày 16/8/2024, Lê Sỹ Thanh L bị bệnh Chậm phát triển tâm thần nhẹ. Lê Sỹ Thanh L hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
- Hiện tại (tại thời điểm giám định) Lê Sỹ Thanh L bị bệnh Chậm phát triển tâm thần nhẹ. Lê Sỹ Thanh L hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
Bản Cáo trạng số 88/CT-VKS-TP, ngày 25/11/2024, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố Lê Sỹ Thanh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Sỹ Thanh L phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lê Sỹ Thanh L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ.
- Bị cáo không có nghề nghiệp nên không đề nghị hình phạt bổ sung và không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: không.
- Về đồ vật, tài sản và vật chứng thu giữ: không
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH /14 về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
* Người bào chữa của bị cáo: Nhất trí với tội danh và điều luật áp dụng với bị cáo, đề nghị HĐXX xem xét đến nhân thân và điều kiện hoàn cảnh bị cáo, bị cáo bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức và điều khiển hành vi, đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo mức án cải tạo không giam giữ phù hợp.
- Bị cáo khai báo thành khẩn, nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên, nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa, không có ý kiến tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử cho hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Y đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt, tuy nhiên sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng trên không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
-
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng, Kết luận định giá tài sản, phù hợp với các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 16/8/2024 tại nhà ở của bà Huỳnh Thị T1 thuộc tổ A, phường M, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, Lê Sỹ Thanh L đã trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone XS Max của bà T1 có giá trị 3.000.000 đồng sau đó mang bán cho anh Nguyễn Thế T2 được 800.000 đồng, L đã sử dụng hết số tiền trên vào mục đích chi tiêu cá nhân.
Do đó Lê Sỹ Thanh L phải chịu trách nhiệm hình sự về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.
- Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người bị hạn chế năng lực nhận thức, có khó khăn trong nhận thức và điều chỉnh mọi hành vi, hoạt động bản thân, tuy nhiên, bị cáo cũng nhận thức được trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, an toàn và trị an cho xã hội. Do vậy, cần phải đưa bị cáo ra xử lý trước pháp luật.
-
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; bản thân bị cáo là người khuyết tật nặng, có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi thuộc đối tượng được hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng, quá trình tham gia tố tụng đã thành khẩn khai báo, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Bị cáo là người khuyết tật nặng, có nơi cư trú rõ ràng, trước khi phạm tội, không có vi phạm pháp luật gì nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, xử phạt bị cáo được cải tạo không giam giữ tại địa phương là phù hợp. Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo và không buộc bị cáo phải lao động công ích.
-
Về xử lý vật chứng, đồ vật thu giữ:
- - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone XS Max, màu vàng, máy đã qua sử dụng, còn hoạt động bình thường do Nguyễn Thế T2 giao nộp ngày 18/8/2024 là tài sản của bà Huỳnh Thị T1, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Y đã trả lại cho bà T1 là chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp.
- - Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Hadosiva biển số 21T2-5173, màu nâu, xe có 02 chiếc gương chiếu hậu, xe đã qua sử dụng do Lê Sỹ Thanh L giao nộp ngày 18/8/2024 là tài sản của bà Nguyễn Thị C, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Y đã trả lại cho bà C là chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia X1 màu xanh – đen, đã qua sử dụng; 01 chiếc sim điện thoại của nhà mạng Viettel, 01 Giấy xác nhận khuyết tật được cấp vào tháng 7/2014; 01 sổ lĩnh tiền trợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng, do Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố Y cấp đối với Lê Sỹ Thanh L, là tài sản của bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Y đã trả lại cho bị cáo là phù hợp
-
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Thế T2 đã nhận số tiền 800.000đồng do L bồi thường. Anh T2 không có yêu cầu đề nghị gì khác về vấn đề bồi thường dân sự nên HĐXX không xét.
Bà Huỳnh Thị T1 đã nhận lại chiếc điện thoại di động L trộm cắp. Đối với chiếc sim và chiếc ốp điện thoại bị L trộm cắp sau đó L đã vứt trên đường đi bán chiếc điện thoại di động, bà T1 không có yêu cầu, đề nghị bồi thường thiệt hại, nên HĐXX không xét.
- Đối với anh Nguyễn Thế T2 là người mua chiếc điện thoại di động Lê Sỹ Thanh L bán ngày 17/8/2024, anh T2 không biết đây là tài sản do L phạm tội mà có nên hành vi của anh Nguyễn Thế T2 không cấu thành tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" theo quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự.
- Về án phí: Bị cáo là người khuyết tật nặng, có đề nghị được miễn án phí, nên được miễn án phí theo quy định.
- Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa tại phiên tòa là phù hợp nên được chấp nhận.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện của bị cáo, người bào chữa, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Sỹ Thanh L phạm tội "Trộm cắp tài sản".
-
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt Lê Sỹ Thanh L 01 (một) năm cải tạo không giam giữ về tội "Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự công an thành phố Y, tỉnh Yên Bái nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án đã có hiệu lực pháp luật. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
Giao bị cáo Lê Sỹ Thanh L cho Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái giám sát và giáo dục trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trường hợp người bị kết án hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm
-
Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo, người bào chữa, người đại diện của bị cáo đồng thời là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Văn |
Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 85/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Sỹ Thanh L - Trộm cắp tài sản
