Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUÂN K

THÀNH PHỐ C

Bản án số: 85/2024/HS-ST

Ngày: 05/07/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ C

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc B

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị H
  2. Ông Đinh Q.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị K - Thư ký Tòa án nhân dân quận K, thành phố C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận K, thành phố C tham gia phiên tòa: ông Bùi Hải Đ - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận K, thành phố C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2024/HSST ngày 10 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 424/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 06 năm 2024 đối với bị cáo:

Huỳnh Công D, sinh năm: 1995, tại C;

Nơi cư trú: ấp N, xã N, huyện P, thành phố C;

Nơi ở hiện tại: như trên.

Nghề nghiệp: Làm thuê;

Trình độ học vấn: 09/12;

Dân tộc: Kinh;

Giới tính: Nam;

Tôn giáo: Không;

Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Huỳnh Công Đ và bà Lê Thị Ú;

Bị cáo có 01 người anh, sinh năm: 1994 và 01 người em sinh năm: 2000.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không;

Bị cáo tại ngoại.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Nguyễn Trần M, sinh năm: 1999 (vắng)

Địa chỉ: 9 L, phường A, quận N, C .

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Võ Thị Ngọc T, sinh năm: 2005 (vắng)

Địa chỉ: ấp A xã T, huyện P, tỉnh H.

- Người làm chứng:

  1. Ông Lê Ngọc H, sinh năm: 1971

Địa chỉ: D L, phường C, quận N, thành phố C.

  1. Ông Huỳnh Thanh T1, sinh năm: 1980

Địa chỉ: B Khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh A.

  1. Ông Nguyễn Thiện C, sinh năm: 1991

Địa chỉ: 1 T, phường C, quận N, C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc, 17 giờ 30 phút, ngày 16/12/2023 ông Nguyễn Trần M điều khiển xe ô tô biển số 65A -146.46 đến tiệm R tại số D L, phường C, quận N để rửa xe và giao xe ô tô cho nhân viên tên Huỳnh Thanh T1 rửa nhưng không nhớ việc mình để 01 chiếc nhẫn vàng 14K và 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro Max trong xe ô tô. Khi nhận xe của ông M, ông T1 rút thảm trong xe ra để giặt và rửa bên ngoài xe, Huỳnh Công D lùi xe ra và dọn rửa bên trong xe. Lúc này, D thấy điện thoại di động Iphone 12 Pro Max để vị trí ghế phụ phía sau bên phải nên nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại bán lấy tiền trả nợ. Dự lấy điện thoại bỏ vào túi quần rồi mang vào nhà vệ sinh cất giấu. Sau khi làm xong D vào nhà vệ sinh lấy điện thoại chiếm đoạt được bỏ vào túi áo khoác rồi chạy xe về nhà, tháo thẻ sim rồi mang điện thoại gửi cho bạn gái tên Võ Thị Ngọc T. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, ông M đến nhận lại xe, trên đường lái xe về nhà, ông M nhớ lại có để chiếc nhẫn vàng trên xe nhưng tìm không thấy nhẫn vàng nên ông M quay lại tiệm rửa xe báo là có để 01 chiếc nhẫn vàng trên xe nhưng đã bị mất, ông M lái xe về đến nhà thì nhớ lại còn để 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro Max trên xe nên ông M đến tiệm rửa xe báo cho chủ tiệm biết và xin số điện thoại của nhân viên phụ trách rửa xe của ông M là Huỳnh Công D. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, ông M gọi cho D hỏi có lấy được điện thoại và nhẫn vàng thì cho M nhận lại. Dự không thừa nhận hành vi chiếm đoạt điện thoại và nhẫn vàng nên ông M đến Công an phường C trình báo sự việc.

Qua công tác xác minh và mời Huỳnh Công D làm việc thì D thừa nhận khi vệ sinh trong xe ô tô biển số 65A -146.46 Dự có lấy trộm chiếc điện thoại di động Iphone 12 Pro Max. Dự không thấy chiếc nhẫn vàng trong xe như trình bày của ông Nguyễn Trần M.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro Max, màu Gold, Imei: 350141786275170; sim số 0859.666.667 (bà Võ Thị Ngọc T giao nộp).

Theo Bản Kết luận định giá tài sản số: 238/KL-HĐĐG ngày 29/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - UBND quận N kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro Max có giá trị: 12.500.000 đồng; 01 nhẫn bằng vàng 14K trọng lượng 2,6 chỉ có giá trị: 9.362.000 đồng. Tổng giá trị các tài sản: 21.862.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Huỳnh Công D thừa nhận hành vi lén lút chiếm đoạt điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max của ông M. Đối với chiếc nhẫn vàng 14K trọng lượng 2,6 chỉ, ông M cho biết để tại vị trí cạnh chiếc điện thoại di động Iphone 12 Pro Max trong xe ô tô trên nhưng không có ai chứng kiến, khi rửa xe xong, ông M nhận lại xe thì phát hiện bị mất trộm chiếc nhẫn vàng. Quá trình điều tra, Huỳnh Công D khai không chiếm đoạt nhẫn vàng của ông M nên chưa đủ căn cứ kết luận D đã lấy trộm chiếc nhẫn vàng 14K trọng lượng 2,6 chỉ của ông Nguyễn Trần M.

Đối với bà Võ Thị Ngọc T nhận giữ điện thoại giùm bị cáo nhưng không biết về hành vi bị cáo lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh Công D nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 39 ngày 28/4/2023 trả lại cho ông Nguyễn Trần M: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max, màu Gold 128GB; 01 thẻ sim điện thoại di động thuê bao số 0859.666.667, ông M nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm.

Đối với 01 (một) đĩa DVD lưu trữ các đoạn video ghi hình bị cáo Huỳnh Công D lén lút chiếm đoạt tài sản của ông Nguyễn Trần M, Cơ quan điều tra lưu trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 92/CT –VKSNK ngày 08 tháng 05 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân quận K truy tố: bị cáo Huỳnh Công D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Huỳnh Công D thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát:

- Truy tố bị cáo Huỳnh Công D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Huỳnh Công D mức án từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự về xử lý vật chứng:

- 01 (một) đĩa DVD lưu trữ các đoạn video ghi hình bị cáo Huỳnh Công D lén lút chiếm đoạt tài sản của ông Nguyễn Trần M là chứng cứ chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo nên đề nghị tịch thu lưu hồ sơ vụ án.

- Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 39 ngày 28/4/2023 trả lại cho ông Nguyễn Trần M: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max, màu Gold 128GB; 01 thẻ sim điện thoại di động thuê bao số 0859.666.667 là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan Công an và Viện kiểm sát đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, kết luận định giá và đoạn video ghi hình bị cáo tại hiện trường cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở để kết luận.

Bị cáo Huỳnh Công D là người đã thành niên có sức khỏe, có nhận thức pháp luật đầy đủ, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài nên đã lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động Iphone 12 của bị hại Nguyễn Trần M. Theo bảng kết luận định giá tài sản số: 238/KL-HĐĐG ngày 29/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND quận N kết luận điện thoại di động Iphone 12Promax có giá trị: 12.500.000đ (Mười hai triệu, năm trăm nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ đồng thời làm mất an ninh trật tự tại địa phương và đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận K đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

  • 01 (một) đĩa DVD lưu trữ các đoạn video ghi hình bị cáo Huỳnh Công D lén lút chiếm đoạt tài sản của ông Nguyễn Trần M là chứng cứ chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo nên tịch thu lưu hồ sơ vụ án.
  • Việc Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 39 ngày 28/4/2023 trả lại cho ông Nguyễn Trần M: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max, màu Gold 128GB; 01 thẻ sim điện thoại di động thuê bao số 0859.666.667 là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

1. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Công D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Công D 09 (chín) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu lưu hồ sơ 01 (một) đĩa DVD.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố C giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Ngọc B

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ C về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 85/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ C
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger