Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/HS-PT

Ngày: 04/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Vân

Các Thẩm phán: 1/ Ông Phạm Văn Bình

2/ Ông Bùi Thanh Quốc

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Lộc – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 132/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Công V và các đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 26/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Công V, sinh ngày 15/12/2005 tại Cần Thơ; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Buôn bán; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; con ông Nguyễn Văn Bé T (chết) và bà Lưu Kiều O (sống); em có 01 người, sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

    Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Bà Lưu Kiều O, sinh năm 1984 – Mẹ của bị cáo. (Có mặt).

    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, Tp ..

  3. Nguyễn Hữu L, sinh ngày 10/4/2005 tại Cần Thơ; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm thuê; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; con ông Nguyễn Văn D (chết) và bà Nguyễn Thị P (sống); anh có 01 người, sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không.
  4. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiênt tòa.

  5. Võ Văn Tuấn A, sinh ngày 28/11/2004 tại Cần Thơ; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm thuê; dân tộc: Kinh; quốc tịch Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; con ông Võ Văn N (sống) và bà Nguyễn Thị Kim L1 (sống); chị có 01 người, sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không.
  6. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  7. Nguyễn Hữu K, sinh ngày 22/10/2006 tại Cần Thơ; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm Thuê; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 07/12; con ông Nguyễn Hữu T1 (sống) và bà Nguyễn Thị T2 (sống); tiền án, tiền sự: Không.
  8. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

    Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1981 – Cha của bị cáo. (Có mặt).

    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, TP ..

    * Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu K: Bà Nguyễn Thị Chúc L2 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm T8. (Có mặt).

    * Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Hữu L, Võ Văn Tuấn A: Luật sư Đỗ Vinh Q - Văn phòng L7 thuộc Đoàn luật sư thành phố C. (Có mặt).

Trong vụ án, còn có các bị cáo khác và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 25/5/2023, Hồ Văn S, Đặng Văn Đ, Lê Hoàng P1, Võ Huy T3, Nguyễn Văn P2 và Lê Minh H uống nước tại quán S1 thuộc ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ, khi đi Hóa có mang theo một cây dao tự chế để trong một túi đựng dụng cụ câu cá và đưa cho Lê Hoàng P1 giữ; cùng uống nước chung nhưng ngồi bàn kế bên là Nguyễn Hữu L, Nguyễn Hữu K, Võ Văn Tuấn A, Nguyễn Công V và Lê Tấn L3.

Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, S thấy có 03 xe mô tô có biển số 67 (biển số xe tỉnh An Giang) và 61 (biển số xe tỉnh Bình Dương) với khoảng 06 - 07 người chạy ngang và quay lại hai, ba lần rồi đi về hướng Cầu N thuộc ấp T, xã T. Thấy vậy, S đưa ra thông tin rằng những người trên là người ở L, tỉnh An Giang đến để đánh nhau và lên tiếng rủ cả nhóm đang uống nước cùng đi kiếm nhóm người đó với mục đích nếu gặp sẽ đánh và để thể hiện với những người trong nhóm, tất cả đều đồng ý. S điều khiển xe mô tô 67F1 - 0699 chở một người nhưng không xác định được là ai; Đ điều khiển xe mô tô 65K1 - 574.99 chở Hoàng P1 mang theo 01 cây dao tự chế; Hóa điều khiển xe mô tô 65K1 - 202.12 chở T3 và Văn P2; Hữu L điều khiển xe mô tô 65K1 - 565.31 chở L3; Tuấn A điều khiển xe mô tô 65K1 - 045.29 chở Công Vinh; K điều khiển xe mô tô 65K1 - 282.73 đi một mình. Nhóm của S chạy từ quán S1 vào Rạch Sỹ C thuộc xã T, huyện C ra Rạch V thuộc phường T, quận T, thành phố Cần Thơ rồi đi đường T đến Cầu N, tiếp tục đi theo đường L đến cua Ú thuộc ấp T, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ rồi tất cả giải tán ra về. Trên đường đi nhóm của S rú ga (nẹt pô xe), rà mũi dao xuống đường, la hét gây ồn ào, náo loạn suốt tuyến đường; tổng chiều dài đoạn đường các đối tượng đi qua gây mất trật tự là khoảng 20 km.

Tiếp đến khoảng 19 giờ ngày 26/5/2023, S, Văn Đ và Huy B (không xác định được họ tên và địa chỉ) tiếp tục uống nước tại quán S1 thì Huy B nói với S vào ngày 25/5/2023, em của Huy B bị nhóm người điều khiển xe có biển số 67 dùng ly ném và phóng dao nên nhờ S tiếp. S gọi điện thoại cho Hoàng P1 kêu chuẩn bị dao tự chế và đến nhà rước Hoàng P1. Lúc này, H và Văn P2 đến nhà rước Hoàng P1, khi đi có mang theo một túi đựng dụng cụ câu cá, bên trong có 04 cây dao tự chế (trong đó có 01 cây dao của H, 02 cây dao của Văn P2 và 01 cây dao của T3), cùng lúc S đến nhà Hoàng P1 và cả nhóm cùng đi đến quán S1, Hoàng P1 xuống xe mang túi đựng 04 cây dao tự chế để ở mé sông trước quán. Tại quán Sóc Nâu lúc này có Đ và nhiều đối tượng khác đang tụ tập ở trước quán, có người nói nhóm người Long Xuyên đang ở T (xã T, huyện C) nên Đ cùng những đối tượng này lên xe chạy về hướng xã T, gồm có Trần Văn T4 điều khiển xe mô tô Exciter màu xanh, không rõ biển số chở Đ; Trần Văn V1 điều khiển xe mô tô 69F1 - 628.26 chở 02 người (không biết rõ họ, tên); Phan Hữu L4 điều khiển xe 65HA - 013.86 chở Phan Minh K1; Cao Minh T5 điều khiển xe cup 50, không biển số đi một mình; Võ Minh Đ1 điều khiển xe mô tô 65P8 - 6086 đi một mình; Phan Văn N1 cầm theo 02 con dao tự chế (không xác định được người chở N1); Lê Tuấn D1 điều khiển xe mô tô 69F1 - 242.88 chở Nguyễn Văn X cầm theo 01 con dao tự chế; Võ Huy T3, Nguyễn Văn Trí H1 và Phan Hữu L5 (không xác định được đi cùng với ai); Phan Văn H2 điều khiển xe mô tô 65K1 - 486.49 đi một mình. S chở Lê Hoàng P1 đến tiệm xăm Đ ở ấp T, xã T để uống nước.

Khoảng 30 phút sau, S điện thoại cho Đ, hẹn gặp Đ và nhóm đối tượng đi cùng Đ tại quán cà phê C1 ở Rạch S. Tại đây, S kêu cả nhóm cùng chạy từ quán cà phê C1 ra đường T hướng từ xã T đến Cầu C, S chở Hoàng P1 ngồi phía sau, cầm một con dao tự chế chạy dẫn đầu và khi đến Cầu C thì quay đầu xe chạy về hướng xã T. Khi đến quán S1 có thêm Hữu K điều khiển xe 65K1 - 282.73 chở Hữu L5; Tuấn A điều khiển xe 65K1 - 045.29 chở Công Vinh. Lúc này, S đưa điện thoại cho Đ để quay video clip rồi cả nhóm tiếp tục điều khiển xe chạy đến xã T, tiếp tục theo đường Lá Sáu qua cua Út V2 và dừng lại trước quán cà phê C1, S kêu những người đi cùng chụp hình chung rồi giải tán. Trên đường đi nhóm của S cũng rú ga, rà mũi dao xuống đường, la hét gây ồn ào, náo loạn suốt tuyến đường; tổng chiều dài đoạn đường các đối tượng đi qua gây mất trật tự là khoảng 30 km.

Sau khi về nhà, S sử dụng điện thoại đăng các video clip quá trình nhóm của S điều khiển xe, có mang theo hung khí gây mất trật tự trên các tuyến đường lên mạng xã hội Facebook.

Tang vật thu giữ: 01 điện thoại di động SAMSUNG Galaxy Note 10+5G, số IMEI: 358593102234319, gắn sim số 0931132771 (của Hồ Văn S ); 01 cây dao cán bằng gỗ dài 19,5cm, lưỡi bằng kim loại dài 39cm, đầu nhọn; 01 cây dao cán bằng kim loại dài 20cm, lưỡi bằng kim loại dài 55cm, đầu nhọn; 01 cây dao cán bằng kim loại dài 01m, lưỡi bằng kim loại dài 20cm, đầu nhọn; 01 cây dao cán bằng kim loại dài 50cm, lưỡi bằng kim loại dài 40cm, đầu nhọn (của Lê Hoàng P1); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Sonic 150R, màu trắng-đỏ - đen, biển kiểm soát 65K1 - 574.99 (của Đặng Văn Đ ); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Click 150i, màu trắng - đỏ, biển kiểm soát 65K1 - 565.31 (của Nguyễn Hữu L ); 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter 150, màu trắng - đen, biển kiểm soát 65K1-282.73 (của Nguyễn Hữu K ); 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Nouvo, màu đỏ đen, biển kiểm soát 65K1 - 045.29 (của Võ Văn Tuấn A); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Poco, màu đen, số IMEI: 862598056262447 (của Nguyễn Văn P2); 01 xe mô tô biển kiểm soát 65HA - 013.86, màu đen (của Phan Minh K1 ); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Blade, biển kiểm soát 65K1-202.12, màu xám - đen (của Lê Minh H); 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu đỏ đen, biển kiểm soát 65P8 - 6086 ( của Võ Thiên Đ2 cha ruột Võ Minh Đ1).

Đối với xe mô tô 67F1 - 0699 do Hồ Văn S điều khiển là của Hồ Văn T6 (cha ruột S), ông T6 mua xe này của người khác chưa sang tên, hiện tại xe đã bán cho một người đàn ông không biết rõ họ tên ở thành phố Hồ Chí Minh; xe mô tô 69F1 - 628.26 do Trần Văn V1 điều khiển là của Nguyễn Thị Ngọc B1 (mẹ ruột V1), bà B1 mua xe này của người khác chưa sang tên, hiện tại xe đã bán cho một người đàn ông không rõ, họ tên ở tỉnh Vĩnh Long; xe mô tô 65K1 - 486.49 là của Phan Văn H2, H2 đã bán cho người đàn ông ở quận T, thành phố Cần Thơ; xe mô tô 69F1 - 242.88 do Lê Tuấn D1 điều khiển là của Trịnh Thị H3 (mẹ ruột D1), bà H3 mua xe này của người khác chưa sang tên, hiện tại đã bán cho một người đàn ông không rõ họ tên ở tỉnh Bình Dương (bút lục 560); xe mô tô 65HA - 033.98 do Cao Minh T5 điều khiển là của Trần Thị Út P3 (mẹ ruột T5), hiện tại đã bán cho một người đàn ông không rõ, họ tên ở N; xe mô tô 65K1 - 514.24 do Lê Tấn L3 là của Lê Tấn P4 (cha ruột L3), hiện tại đã bán cho một người đàn ông không rõ họ tên ở cầu S; tất cả các phương tiện nói trên không thu hồi được.

Đặng Văn Đ sinh ngày 23/7/2005, đăng ký khai sinh ngày 21/7/2006; Trần Văn V1 sinh ngày 22/3/2006, đăng ký khai sinh ngày 08/8/2014; Phan Hữu L5, sinh ngày 11/05/2006, đăng ký khai sinh ngày 31/12/2007. Do các đối tượng được đăng ký khai sinh trễ hạn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C ra quyết định trưng cầu giám định pháp y về độ tuổi đối với các đối tượng này.

+ Tại bản kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 808/KLGĐĐT-TTPYCT, ngày 05/12/2023 của Trung tâm Pháp y thành phố T8 kết luận qua quá trình khám giám định, kết quả cận lâm sàng, xác định Đặng Văn Đ có độ tuổi từ 18 năm 00 tháng đến 18 năm 06 tháng (tại thời điểm giám định ngày 01/12/2023).

+ Tại bản kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 807/KLGĐĐT-TTPYCT, ngày 05/12/2023 của Trung tâm Pháp y thành phố T8 kết luận qua quá trình khám giám định, kết quả cận lâm sàng, xác định Trần Văn V1 có độ tuổi từ 17 năm 00 tháng đến 17 năm 06 tháng (tại thời điểm giám định ngày 01/12/2023).

+ Tại bản kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 851/KLGĐĐT-TTPYCT, ngày 20/12/2023 của Trung tâm Pháp y thành phố T8 kết luận qua quá trình khám giám định, kết quả khám chuyên khoa và cận lâm sàng, xác định Phan Hữu L5 có độ tuổi là 17 năm 00 tháng đến 17 năm 06 tháng (tại thời điểm giám định ngày 19/12/2023).

Đối với Phan Minh K1 sinh ngày 22/7/2008; Phan Hữu L4 sinh ngày 27/11/2007; Lê Tuấn D1 sinh ngày 12/12/2007; Nguyễn Văn T7 Hữu sinh ngày 16/7/2007; Lê Minh Hóa sinh ngày 17/11/2008, Võ Huy T3 sinh ngày 17/01/2008, Nguyễn Văn P2 sinh ngày 11/8/2007; Cao Minh T5 sinh ngày 26/02/2008 và Võ Minh Đ1 sinh ngày 19/3/2008 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C không xử lý.

Riêng Phan Văn H2 tham gia vào ngày 26/5/2023, có nghe Đ rủ đi nhưng không biết đi đâu, thấy đông nên đi theo; khi đi được một đoạn, H2 thấy các đối tượng đi cùng có mang theo túi đựng dụng cụ câu cá, Hoàng nghĩ là hung khí, sợ đi đánh nhau nên H2 quay xe tự ý đi về, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C không xử lý hình sự.

Cơ quan Cảnh sát điều tra nhập kho vật chứng: 01 cây dao cán bằng gỗ dài 19,5cm, lưỡi bằng kim loại dài 39cm, đầu nhọn; 01 cây dao cán bằng kim loại dài 20cm, lưỡi bằng kim loại dài 55cm, đầu nhọn; 01 cây dao cán bằng kim loại dài 01m, lưỡi bằng kim loại dài 20cm, đầu nhọn; 01 cây dao cán bằng kim loại dài 50cm, lưỡi bằng kim loại dài 40cm, đầu nhọn; 01 điện thoại di động S2 10+5G, số IMEI: 358593102234319, gắn sim số 0931132771; điện thoại di động nhãn hiệu Poco, màu đen, số IMEI: 862598056262447; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Sonic150R, màu trắng - đỏ - đen, biển kiểm soát 65K1 - 574.99; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Click 150i, màu trắng - đỏ, biển kiểm soát 65K1 - 565.31; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Nouvo, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 65K1 - 045.29; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter 150, màu trắng - đen, biển kiểm soát 65K1 - 282.73; 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 65P8 - 6086; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Blade, biển kiểm soát 65K1 - 202.12, màu xám - đen; 01 xe mô tô biển số 65HA - 013.86, màu đen.

Đoạn video clip ghi lại diễn biến vụ gây rối trật tự công cộng được sao chép qua USB kèm theo hồ sơ vụ án.

Tại bản án hình sự số 27/2024/HS-ST ngày 26/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ đã quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Công V, Nguyễn Hữu L, Võ Văn Tuấn A và Nguyễn Hữu K phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

  1. Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Công V.
  2. - Xử phạt Nguyễn Công V 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

  3. Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hữu L.
  4. - Xử phạt Nguyễn Hữu L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

  5. Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Võ Văn Tuấn A.
  6. - Xử phạt Võ Văn Tuấn A 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

  7. Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hữu K.
  8. - Xử phạt Nguyễn Hữu K 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo khác, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi tuyên án sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Công V, Nguyễn Hữu L, Võ Văn Tuấn A kháng cáo xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo Nguyễn Hữu K kháng cáo xin được giảm hình phạt tù từ 18 tháng tù giam xuống còn 06 tháng và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo V, L, Tuấn A xin được hưởng án treo. Bị cáo K xin được giảm hình phạt tù và xin được hưởng án treo.

- Ông Nguyễn Hữu T1 – cha của bị cáo K trình bày: Hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo K phải nghĩ học sớm để phụ giúp gia đình, bị cáo K chưa thành niên, mong được Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, gia đình sẽ có trách nhiệm giáo dục bị cáo.

- Bà Lưu Kiều O – mẹ của bị cáo V trình bày: Cha bị cáo V mất sớm, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo K ở độ tuổi mới lớn, suy nghĩ chưa chín chắn, xin xem xét cho bị cáo V được cải tạo ngoài xã hội.

- Bào chữa cho bị cáo Võ Hữu L6 và bị cáo Võ Văn Tuấn A – Luật sư Nguyễn Vinh Q1 phát biểu: Hai bị cáo Hữu L6 và Tuấn A1 đều có nhân thân tốt, tuổi còn nhỏ chưa nhận thức đầy đủ về hành vi đã thực hiện; Gia đình các bị cáo đều thuộc thành phần lao động nghèo nên đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ phạm tội vì hoàn cảnh đặt biệt khó khăn mà không phải do tự mình gây ra theo điểm g khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 và tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo.

- Bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu K – bà Nguyễn Thị Chúc L2 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố T8 phát biểu: Bị cáo K tham gia vào vụ án với vai trò thứ yếu, giúp sức không đáng kể, sau khi được các bị cáo khác rủ rê bị cáo K có tham gia nhưng chỉ chạy xe theo một đoạn thì quay về; bị cáo K chưa thành niên, có nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình kho khăn, phải nghỉ học sớm để đi làm phụ giúp gia đình và là lao động chính trong gia đình. Bị cáo K có khả năng tự cải tạo ngoài xã hội. Đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo K.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu: Xét thấy nội dung vụ án đã được làm rõ theo hồ sơ vụ án, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Khi lượng hình, cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cũng như nhân thân của bị cáo đúng quy định. Mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng là tương xứng đối với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ gì mới để xem xét nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm đã tuyên. Đối chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Trong 02 ngày 25/5/2023, 26/5/2023 bị cáo Võ Văn Tuấn A, bị cáo Nguyễn Hữu L, bị cáo Nguyễn Công V, bị cáo Nguyễn Hữu K nghe theo lời lôi kéo, kích động, xúi giục của bị cáo Hồ Văn S tập hợp lực lượng cả nhóm, dùng xe môtô, chuẩn bị hung khí chạy qua nhiều tuyến đường xã T, xã T, xã T huyện C, thành phố Cần Thơ, trên đường đi chạy xe giăng hàng ngang, sử dụng hung khí, la hét, nẹt pô, rú ga, dùng dao cà trên mặt đường gây náo loạn, mất trật tự đoạn đường mà cả nhóm đối tượng di chuyển qua và dùng điện thoại quay clip đăng lên mạng xã hội gây mất an ninh trật tự địa phương.

Bị cáo Võ Văn Tuấn A, bị cáo Nguyễn Hữu L có đủ năng lực nhận thức, điều khiển hành vi. Các bị cáo Nguyễn Công V, Nguyễn Hữu K khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nhưng tất cả các bị cáo đều đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật Hình sự bảo vệ, gây mất trật tự tại địa phương. Hành vi nêu trên đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Sau khi tuyên án sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Công V, Nguyễn Hữu L, Võ Văn Tuấn A kháng cáo xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo Nguyễn Hữu K kháng cáo xin được giảm hình phạt tù từ 18 tháng tù giam xuống còn 06 tháng và xin được hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy:

[3.1] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý lo lắng, bức xúc cho người dân, các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái quy định của pháp luật nhưng vì muốn thể hiện bản thân các bị cáo đã cố ý thực hiện nên cần xử lý nghiêm để cải tạo giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[3.2] Xét về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Ở giai đoạn sơ thẩm, các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt chưa tiền án tiền sự; phạm tội lần đầu, hoàn cảnh gia đình khó khăn, trình độ học vấn thấp đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều thực hiện hành vi phạm tội từ 02 lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều xuất thân từ gia đình lao động nhưng không thuộc trường hợp hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và đó không phải là nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên không chấp nhận với đề nghị của luật sư bào chữa về việc áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm g khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo L và bị cáo Tuấn A.

[3.3] Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo, áp dụng đúng tình tiết tăng nặng và đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ; áp dụng nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội phù hợp với quy định của pháp luật. Mức hình phạt đã tuyên không nặng, có phân hóa trách nhiệm hình sự của từng bị cáo, không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

[3.4] Các bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên không đủ điều kiện để được hưởng án treo. Mặt khác, quá trình tố tụng Ủy ban nhân dân xã T, huyện C có văn bản đề nghị xử lý nghiêm nhằm ổn định tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Do đó không chấp nhận yêu cầu xin được hưởng án treo của các bị cáo

[4] Quan điểm của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hồi đồng xét xử nên chấp nhận.

[5] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[6] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Công V, Nguyễn Hữu L, Võ Văn Tuấn A, Nguyễn Hữu K. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS - ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Công V, Nguyễn Hữu L, Võ Văn Tuấn A, Nguyễn Hữu K phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  2. Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Công V.
  3. - Xử phạt Nguyễn Công V 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

  4. Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hữu L.
  5. - Xử phạt Nguyễn Hữu L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

  6. Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Võ Văn Tuấn A.
  7. - Xử phạt Võ Văn Tuấn A 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

  8. Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hữu K.
  9. - Xử phạt Nguyễn Hữu K 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

  10. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Công V, Nguyễn Hữu L, Võ Văn Tuấn A, Nguyễn Hữu K mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
  11. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  12. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND CC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - Cơ quan tố tụng H. Cờ Đỏ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Bích Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HS-PT ngày 04/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 85/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Công V và đồng phạm phạm tội gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger