Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31-5-2024

V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kiều My.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Bạn;
  2. Bà Phạm Thị Tuyết Nhung.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hồng Hà – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Đào Anh Vũ – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 173/2024/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hoàng Thảo L, sinh năm 1991 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Số A đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Bị đơn: Ông Lê Phong Đ, sinh năm 1986 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số B đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng Thảo L trình bày: Bà Nguyễn Hoàng Thảo L và ông Lê Phong Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 08/01/2018.

Về mâu thuẫn vợ chồng: Thời gian đầu sau khi kết hôn thì bà L và ông Đ chung sống hạnh phúc với nhau. Tuy nhiên thời gian gần đây thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không hiểu nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng bị sứt mẽ, thường xuyên xảy ra cãi vả, hiện nay đã sống ly thân nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà L được ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Bà L và ông Đ có 01 con chung là cháu Lê An N, sinh ngày 02/6/2020. Cháu Lê An N còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của người mẹ và hiện nay cháu đang ở với bà L nên bà L có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Lê An N cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Phong Đ trình bày:

Ông Đ thống nhất như trình bày của bà L về quan hệ hôn nhân, về con chung, tài sản chung và nợ chung. Ông Đ và bà L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 08/01/2018.

Về mâu thuẫn vợ chồng: Thời gian đầu sau khi kết hôn thì bà L và ông Đ chung sống hạnh phúc với nhau. Thời gian gần đây thì trong cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng bị sứt mẽ, bà L thường hay đi nhậu về khuya, ông Đ đã khuyên ngăn nhiều lần mà không thay đổi. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân nhau, tuy nhiên ông Đ không đồng ý ly hôn với bà L.

Về con chung: Ông Đ và bà L có 01 con chung là cháu Lê An N, sinh ngày 02/6/2020. Cháu Lê An N còn nhỏ, hiện nay cháu đang ở với bà L. Nếu ly hôn thì ông Đ đồng ý giao cháu Nhi cho bà L là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng Thảo L.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Hoàng Thảo L được ly hôn với ông Lê Phong Đ.

Về con chung: Giao cháu Lê An N, sinh ngày 02/6/2020 cho bà Nguyễn Hoàng Thảo L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Ông Lê Phong Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn Nguyễn Hoàng Thảo L phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà L có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Đ và giải quyết nuôi con, đây là vụ án về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”; bị đơn ông Đ cư trú tại số B đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

Tại phiên tòa nguyên đơn bà L vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn ông Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 08/01/2018.

Theo bà L và ông Đ trình bày, trong thời gian chung sống với nhau bà L và ông Đ phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bà L và ông Đ không hiểu nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng bị sứt mẽ, thường xuyên xảy ra cãi vả. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không thể kéo dài, cuộc sống chung không đem lại hạnh phúc cho cả hai, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà L được ly hôn với ông Đ. Ông Đ không đồng ý ly hôn với bà L.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương, nơi bà L và ông Đ chung sống. Đại diện chính quyền địa phương cho biết: Trong thời gian bà L và ông Đ chung sống với nhau thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau. Bà L và ông Đ đã sống ly thân nhau từ tháng 01/2024. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông Đ được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và có thực hiện việc đăng ký kết hôn nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Mặc dù ông Đ xác định không muốn ly hôn với bà L, tuy nhiên trong thời gian chung sống với nhau thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau, hiện nay đã sống ly thân, đã thể hiện mâu thuẫn giữa bà L và ông Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không có ý định hàn gắn mối quan hệ hôn nhân này. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L.

[2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống bà L và ông Đ có 01 con chung là cháu Lê An N, sinh ngày 02/6/2020.

Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay cháu Lê An N, sinh ngày 02/6/2020 còn nhỏ, đang do bà L trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc. Mặt khác ông Đ đồng ý giao cháu Nhi cho bà L là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Do đó để đảm bảo cho lợi ích phát triển ổn định của con chưa thành niên, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình tiếp tục giao cháu Nhi cho bà L là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi như nguyện vọng của bà L và ông Đ là có căn cứ.

Ông Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con chung theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L và ông Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà L và ông Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nguyên đơn bà L phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bị đơn ông Đ không phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng Thảo L.

Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Hoàng Thảo L được ly hôn với ông Lê Phong Đ.

Về con chung:

Giao cháu Lê An N, sinh ngày 02/6/2020 cho bà Nguyễn Hoàng Thảo L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Ông Lê Phong Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con:

Bà Nguyễn Hoàng Thảo L và ông Lê Phong Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung:

Bà Nguyễn Hoàng Thảo L và ông Lê Phong Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí:

Bà Nguyễn Hoàng Thảo L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0005355 ngày 21 tháng 02 năm 2024.

Về quyền kháng cáo:

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND TP. Buôn Ma Thuột;
  • - CCTHADS TP. B;
  • - UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
  • - Đương sự;
  • - Lưu Hồ Sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Kiều My

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 85/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger