Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2024/HNGĐ-ST

Ngày 08-11-2024

V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đinh Trọng Thanh
  2. Bà Trần Thị Nơi.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đình Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Hưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 183/2024/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 7 năm 2024 về việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐXX-ST ngày 14 tháng 10 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 30/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 29-10-2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thu T, sinh năm 1999 (có mặt)
    Nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.
    Nơi ở hiện nay: Khu C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa.
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Ánh D, sinh năm 1997 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị Thu T trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Ánh D kết hôn cùng nhau do đôi bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại trụ sở Uỷ ban nhân dân (viết tắt UBND) xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 04-11-2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến cuối năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không bảo ban được nhau trong cuộc sống hàng ngày, hay xảy ra cãi nhau. Mâu thuẫn trầm trọng, đôi bên không khắc phục được nên chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống từ khoảng tháng 3 năm 2024, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh D.

Về nuôi con chung: Chị và anh D có 01 con chung là Nguyễn Nhật Minh K, sinh ngày 26-01-2021, nếu ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K, không yêu cầu anh D phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị; hiện nay chị đang làm công ty có thu nhập ổn định là 15.000.000 đồng/tháng, đảm bảo điều kiện để nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 29-7-2024, bị đơn anh Nguyễn Ánh D trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Lê Thị Thu T kết hôn cùng nhau do đôi bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 04-11-2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến đầu năm 2024 thì mẹ đẻ chị T gọi hai vợ chồng vào M để sinh sống, anh ở M được một tháng thì ra Hà Nội ở, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay nhưng anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh không muốn ly hôn chị T.

Về nuôi con chung: Anh và chị T có 01 con chung là Nguyễn Nhật Minh K, sinh ngày 26-01-2021. Nếu ly hôn, anh xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị T góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Hiện anh đang làm công ty có thu nhập ổn định 9.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định. Các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ cơ bản đúng theo quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a khoản 2 Điều 227; Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho chị Lê Thị Thu T được ly hôn anh Nguyễn Ánh D; về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Nhật Minh K, sinh ngày 26-01-2021 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng; anh D không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T; về chia tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết; về án phí: Chị T phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Chị Lê Thị Thu T khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Ánh D, yêu cầu giải quyết về nuôi con chung, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình và quan hệ tranh chấp là "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung".

[2] Về hôn nhân: Chị Lê Thị Thu T kết hôn với anh Nguyễn Ánh D tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 04-11-2019, là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống hòa thuận, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, đôi bên không khắc phục được đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2024 đến nay. Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng chị T và anh D đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, anh D không muốn ly hôn, tuy nhiên Tòa án triệu tập anh D đến Tòa để tham gia phiên hòa giải nhưng anh D không đến Tòa án. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị T, xử cho chị T được ly hôn anh D là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về nuôi con chung: Chị T và anh D có 01 con chung là Nguyễn Nhật Minh K, sinh ngày 26-01-2021. Xét nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi con của chị T và anh D là chính đáng. Tuy nhiên con chung còn nhỏ và để đảm bảo điều kiện về mọi mặt cho con chung cần giao con chung Nguyễn Nhật Minh K cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chấp nhận sự tự nguyện nuôi con hoàn toàn của chị T không yêu cầu anh D góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T là phù hợp với quy định của Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về chia tài sản chung: Chị T và anh D đều trình bày vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Chị T phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà về hướng giải quyết vụ án phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a khoản 2 Điều 227, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37, khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Thu T và anh Nguyễn Ánh D.
  2. Về nuôi con chung: Xử giao cho chị Lê Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Nhật Minh K, sinh ngày 26-01-2021. Anh D không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T. Anh D có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về chia tài sản chung: Không giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Lê Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003832 ngày 29-7-2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình thành tiền án phí (chị T đã nộp đủ).
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Thu T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Ánh D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Hưng Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Hưng Hà;
  • - UBND xã Thống Nhất;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Nguyễn Bích Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/HNGĐ-ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 85/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa chị Lê Thị Thu T và anh Nguyễn Ánh D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger