|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 85/2024/HNGĐ-ST Ngày: 07-8-2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Lam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sỹ Quân
Ông Nguyễn Tất Thể
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Hoàng Đức – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 120/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm: 1993; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Nguyễn Văn S, sinh năm: 1992; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Hiện đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc. (Có ý kiến xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Văn S đăng ký kết hôn vào ngày 31/8/2015 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; hôn nhân do hai bên tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã, hôn nhân không hạnh phúc. Đặc biệt đến tháng 7/2022 thì vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, anh S nhiều lần đánh đập chị T trước mặt anh em, hàng xóm và trước mặt con. Tháng 12/2022, anh Nguyễn Văn S đi xuất khẩu lao động ở Hàn Quốc, từ đó đến nay vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình trạng hôn nhân của vợ chồng không thể dung hòa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Hoàng Thị T làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn S.
- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 26/3/2016. Khi ly hôn chị Hoàng Thị T đề nghị Tòa án giao con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và yêu cầu anh Nguyễn Văn S cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Hoàng Thị T đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án vì lý do bận công việc.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành làm việc với anh Nguyễn Văn S thông qua cuộc gọi video có hình ảnh với tài khoản Facebook của anh Nguyễn Văn S là “Bầu Sự Pst” (do chị Hoàng Thị T cung cấp thông tin) tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. Bị đơn anh Nguyễn Văn S trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn S thống nhất về nội dung trình bày của chị Hoàng Thị T về việc kết hôn, quá trình chung sống. Theo anh S, sau khi kết hôn vợ chồng thường xuyên đi làm ăn xa, sống xa cách nhau nên không có điều kiện quan tâm, chăm sóc lẫn nhau dẫn tới tình cảm phai nhạt. Anh S đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của chị T, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh S và chị T được ly hôn.
- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 26/3/2016. Khi ly hôn, anh S thống nhất về việc Tòa án sẽ giao con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh S cũng đồng ý việc cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên như yêu cầu của chị T.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay anh S không thể về Việt Nam giải quyết ly hôn, không cung cấp được địa chỉ tại Hàn Quốc nên anh S xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án và ủy quyền cho anh trai là anh Nguyễn Văn L thay anh S thực hiện việc giao nhận các tài liệu, văn bản tố tụng với Tòa án. Quá trình tòa án giải quyết vụ án, anh Nguyễn Văn L đã có đơn trình bày về việc đồng ý, chấp nhận việc ủy quyền giao nhận tại liệu, văn bản của anh Nguyễn Văn S, cam kết sẽ thông báo lại kịp thời nội dung các tài liệu, văn bản tố tụng của Tòa án cho anh S được biết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau và đề nghị Tòa án áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; khoản 1 Điều 51, Điều 55, 57, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 123 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Văn S.
Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của vợ chồng về việc giao con chung là cháu Nguyễn Hoàng P, sinh ngày: 26/3/2016 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành, anh Nguyễn Văn S cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Văn S có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai được phép cản trở.
Về nợ chung, tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Buộc chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Văn S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; anh Nguyễn Văn S phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của đương sự và đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Văn S đăng ký kết hôn ngày 31/8/2015 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Nay chị Hoàng Thị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn S. Tại công văn cung cấp thông tin xuất nhập cảnh số 552/PA08-Đ1 ngày 12/6/2024 của Phòng PA08 – Công an tỉnh H, xác nhận: Anh Nguyễn Văn S, sinh ngày 05/10/1992; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất cảnh lần gần đây nhất vào ngày 19/12/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Căn cứ các Điều 28, 37, 39; nội dung khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
[1.2]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Hoàng Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Văn S hiện đang sinh sống, lao động tự do tại Hàn Quốc, không cung cấp được địa chỉ và thuộc trường hợp bị đơn cố tình dấu địa chỉ. Do điều kiện công việc nên anh S xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt chị T, anh S theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Văn S tự do tìm hiểu, kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 2015, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Căn cứ quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân của chị T và anh S là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Vợ chồng sống xa cách nhau nên tình cảm ngày càng phai nhạt. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình trạng hôn nhân của vợ chồng không thể dung hòa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Hoàng Thị T làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn S. Anh Nguyễn Văn S thống nhất về nội dung trình bày của chị Hoàng Thị T về việc kết hôn, quá trình chung sống và phát sinh mâu thuẫn; thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn nữa nên việc chị T xin ly hôn thì anh S cũng đồng ý.
Xét thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh S là có xảy ra trên thực tế và đã trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm, trách nhiệm gì đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được; chị T và anh S đều có ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn. Do đó, căn cứ Điều 51, 55 Luật Hôn nhân và gia đình, công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Văn S.
[2.2] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 26/3/2016. Cả chị T và anh S đều thống nhất giao con chung cho chị Hoàng Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi thành niên. Bản thân cháu Nguyễn Hoàng P cũng có đơn trình bày nguyện vọng với nội dung nếu bố mẹ ly hôn thì cháu muốn được ở với mẹ là Hoàng Thị T. Xét thấy việc thỏa thuận của hai vợ chồng và ý kiến của cháu P là tự nguyện nên Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận này cũng như ý kiến của cháu P.
Căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình, giao con chung là cháu Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 26/3/2016 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên là phù hợp với quy định của pháp luật và sự thỏa thuận, ý kiến của các bên.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự thỏa thuận của vợ chồng, buộc anh Nguyễn Văn S cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng từ tháng 8/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T, anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3]. Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, 39, 147, 227, 228, 266, 271, 273, 464, 469, 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 8, 9, 51, 55, 57, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Văn S.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 26/3/2016 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.
Buộc anh Nguyễn Văn S cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng từ tháng 8/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Văn S có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000907 ngày 07/6/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh).
Anh Nguyễn Văn S phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Sỹ Quân Nguyễn Tất Thể |
Bùi Văn Lam |
|
Nơi nhận:
|
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Lam |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Bản án số 85/2024/HNGĐ-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 85/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
