|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 85/2024/HNGĐ – ST
Ngày: 05-9-2024
"V/v: Không công nhận quan hệ vợ chồng"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hải và ông Trần Đức Hòa
- - Thư ký phiên tòa: bà Huỳnh Thị Tường Vi– là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng không tham gia phiên tòa.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 128/2024/TLST - HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024, về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa:
- - Nguyên đơn: ông Đỗ Công H, sinh năm: 1973
- Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng
- - Bị đơn: bà Đỗ Thị H1, sinh năm 1975
- Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước
- (Đương sự có văn bản xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 6 năm 2024, nguyên đơn ông Đỗ Công H trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Đỗ Thị H1 tự nguyện chung sống từ năm 1996 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Trong thời gian chung sống có phát sinh mâu thuẫn, đến năm 2016 thì mâu thuẫn trầm trọng và sống ly thân cho đến nay, cuộc sống của ai người đó tự lo, ông và bà hằng đã cố gắng hàn gắn nhưng không được. Nay ông thấy mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố không công nhận quan hệ giữa ông với bà Đỗ Thị H1 là vợ chồng.
Về con chung: ông và bà H1 có hai người con chung, họ tên là Đỗ Thị Y sinh ngày 17/02/1997 và Đỗ Công L sinh ngày 14/02/2009. Ông H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đỗ Công L sinh ngày 14/02/2009. Đối với cháu Y đã thành niên nên tự quyết định cuộc sống của mình.
Về tài sản và nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Đỗ Thị H1 trình bày: Về quan hệ hôn nhân: bà và ông H tự nguyện chung sống từ năm 1996 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Trong thời gian chung sống có phát sinh mâu thuẫn, đến năm 2016 thì mâu thuẫn trầm trọng và sống ly thân cho đến nay, cuộc sống của ai người đó tự lo, bà và ông H đã cố gắng hàn gắn nhưng không được. Nay ông H yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà với ông H là vợ chồng thì bà cũng đồng ý.
Về con chung: bà và ông H có hai người con chung, họ tên là Đỗ Thị Y sinh ngày 17/02/1997 và Đỗ Công L sinh ngày 14/02/2009. Bà đồng ý giao cháu Đỗ Công L sinh ngày 14/02/2009 cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với cháu Y đã thành niên nên tự quyết định cuộc sống của mình.
Về tài sản và nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông H yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng với bị đơn bà H1. Bà H1 có nơi cư trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình. Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
Đương sự có văn bản xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của ông H yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với bà H1:
Xét thất, ông H và bà H1 tự nguyện chung sống nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà H1 không được pháp luật công nhận là vợ chồng, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Trong thời gian chung sống xảy ra mâu thuẫn, hiện nay ông H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng với bà H1. Căn cứ vào Điều 14 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông H, tuyên bố không công nhận quan hệ giữa ông Đỗ Công H và bà Đỗ Thị H1 là vợ chồng.
[2.2] Về con chung: Ông H và bà H1 có hai người con chung, họ tên là Đỗ Thị Y sinh ngày 17/02/1997 và Đỗ Công L sinh ngày 14/02/2009. Ông H và bà H1 đều thống nhất là giao cháu Đỗ Công L sinh ngày 14/02/2009 cho ông Đỗ Công H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Do đó, cần giao cháu Đỗ Công L sinh ngày 14/02/2009 cho ông Đỗ Công H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Đối với cháu Đỗ Thị Y sinh ngày 17/02/1997 đã thành niên, các bên không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng và nuôi dưỡng nên không xem xét giải quyết.
[2.3] Về cấp dưỡng: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét
[2.4] Về tài sản và nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH16 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Công H. Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa ông Đỗ Công H và bà Đỗ Thị H1 là vợ chồng.
- Về con chung: giao cháu Đỗ Công L sinh ngày 14/02/2009 cho ông Đỗ Công H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom hoặc cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.
Đối với cháu Đỗ Thị Y sinh ngày 17/02/1997 đã thành niên, các bên không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng và nuôi dưỡng nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản và nợ: Không yêu cầu, không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Buộc nguyên đơn ông Đỗ Công H phải nộp 300.000đ án phí HNGĐ – ST được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông đã nộp là 300.000₫ theo Biên lai số 00009292, ngày 16/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi Nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hà |
Bản án số 85/2024/HNGĐ – ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 85/2024/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận vợ chồng
