Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH BÌNH

TỈNH ĐỒNG THÁP


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 85/2024/DS-ST

Ngày: 08 – 8 – 2024

V/v tranh chấp hợp đồng

dân sự tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Hoàng Minh.

Ông Ngô Văn Khon.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Phụng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Bình là Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 178/TLST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 107/2024/QÐST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.

Địa chỉ: Số A, P, Phường C, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ chi nhánh: Số C - Quốc lộ C, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T; Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Nhựt G, chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Đ1.

Đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Nhựt G: Anh Bùi Chí T1, Chức vụ: Nhân viên kinh doanh

- Bị đơn: Anh Võ Minh C, sinh năm 1982.

Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1983.

Cùng địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Anh Bùi Chí T1 có mặt tại phiên tòa; anh Võ Minh C và chị Nguyễn Thị Thanh vắng M tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Đ trình bày:

Anh Võ Minh C và chị Nguyễn Thị T2 có quan hệ tín dụng với Ngân hàng thương mại cổ phần Đ – Chi nhánh Đ1 (D), chi tiết như sau:

1. Tổng hạn mức cấp tín dụng: 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) theo hợp đồng tín dụng trung hạn số K.0052/1221 ngày 06/12/2021, chi tiết bao gồm những khoản sau:

Hợp đồng vay số: K.0052/1221 ngày 06/12/2021

Số tiền vay: 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng).

Lãi suất: Lãi suất cho vay: Lãi suất áp dụng cho năm đầu tiên là 9%/năm; Lãi suất điều chỉnh kỳ tiếp theo bằng (=) Lãi suất cơ sở cộng (+) với biên độ (Lãi suất cơ sở: là lãi suất huy động tiết kiệm cá nhân bằng đồng Việt Nam kỳ hạn 13 (mười ba) tháng cao nhất, trả lãi cuối kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ được công bố tại W:www.D1.com.vn.+ Biên độ là 3,5%/năm).

Lãi suất điều chỉnh thay đổi ngày 06/12/2022: 14,51%/năm.

Lãi suất điều chỉnh thay đổi ngày 06/01/2023: 14,16%/năm.

Lãi suất điều chỉnh thay đổi ngày 06/3/2023: 13,45%/năm.

Lãi suất điều chỉnh thay đổi ngày 06/4/2023: 12,83%/năm.

Lãi suất điều chỉnh thay đổi ngày 06/6/2023: 11,85%/năm.

Lãi suất điều chỉnh thay đổi ngày 04/8/2023: 12,06%/năm.

Lãi suất điều chỉnh thay đổi ngày 06/9/2023: 11,55%/năm.

Lãi suất điều chỉnh thay đổi ngày 06/12/2023: 11,05%/năm.

- Thời hạn vay: 60 tháng.

- Mục đích vay: thanh toán tiền mua xe ô tô tải (thùng mui bạc) hiệu HUYNHDAI NEW PORTER 150-TMB, màu xanh, trọng tải 1.450kg.

2. Biện pháp đảm bảo:

Anh Võ Minh C và chị Nguyễn Thị Thanh thế C1 cho D tài sản là động sản theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 66 004782 do Phòng C4 Công an tỉnh Đ cấp ngày 26/11/2021. Chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị T2 theo Hợp đồng thế chấp động sản số K.0143/TC21 ngày 06/12/2021. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng, đăng ký giao dịch đảm bảo theo đúng quy định.

Trong quá trình vay, từ ngày 06/12/2021 đến ngày 10/01/2024 anh Võ Minh C, chị Nguyễn Thị Thanh C2 trả được tổng số tiền như sau:

Vốn: 125.000.000 VND; Lãi trong hạn: 53.344.311 VND; Lãi quá hạn: 441.531 VND. Tổng cộng: 178.785.842 VND (Một trăm bảy mươi tám triệu, bảy trăm tám mươi lăm nghìn, tám trăm bốn mươi hai đồng).

Do anh Võ Minh C, chị Nguyễn Thị Thanh vi P nghĩa vụ trả nợ, nên từ ngày 11/01/2024 D đã chuyển một phần nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 28/3/2024, còn nợ các khoản sau:

- Vốn: 175.000.000 VND; Lãi trong hạn: 4.233.815 VND.

(Tính từ ngày 06/01/2024 đến ngày 06/02/2024 như sau: (Vốn 175.000.000 đồng x 11.05%/365 ngày) x 31 ngày = 1.642.363 đồng).

(Tính từ ngày 06/02/2024 đến ngày 06/3/2024 như sau: (Vốn 170.000.000 đồng x 11.05%/365 ngày) x 29 ngày = 1.492.507 đồng.

(Tính từ ngày 06/3/2024 đến ngày 28/3/2024 như sau: (Vốn 165.000.000 đồng x 11.05%/365 ngày) x 22 ngày = 1.098.945 đồng.

- Lãi quá hạn: 186.185 VND.

(Tính từ ngày 06/01/2024 đến ngày 28/3/2024 như sau: (Vốn 5.000.000 đồng x 16.575%/365 ngày) x 82 ngày = 186.185 đồng.

Từ ngày 17/4/2024 đến ngày 23/7/2024 anh Võ Thanh C3 và chị Nguyễn Thị T2 đã chuyển đến Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đ1 trả tổng số tiền 39.893.536 đồng (bao gồm vốn gốc là 30.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn là 8.953.528 đồng, lãi quá hạn là 940.008 đồng) theo Hợp đồng tín dụng trung hạn số K.0052/1221 ngày 06/12/2021.

Tính đến ngày 08/8/2024 anh Võ Minh C, chị Nguyễn Thị T2 còn nợ Ngân hàng TMCP Đ số tiền 146.450.123 đồng (Một trăm bốn mươi sáu triệu, bốn trăm năm mươi nghìn, một trăm hai mươi ba đồng), trong đó tiền vốn là 145.000.000 đồng, lãi trong hạn 1.445.582 đồng, lãi quá hạn 4.541 đồng. Nay:

Yêu cầu Toà án giải quyết buộc anh Võ Minh C, chị Nguyễn Thị T2 có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền vốn gốc 145.000.000 đồng, lãi trong hạn 1.445.582 đồng, lãi quá hạn 4.541 đồng.

Tổng cộng: 146.450.123 đồng (Một trăm bốn mươi sáu triệu, bốn trăm năm mươi nghìn, một trăm hai mươi ba đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 09/8/2024 đến khi anh Võ Minh C, chị Nguyễn Thị Thanh T3 xong nợ cho Ngân hàng TMCP Đ theo lãi suất được quy định tại hợp đồng tín dụng trung hạn số K.052/1221 ngày 06/12/2021.

Yêu cầu Toà án công nhận Hợp đồng thế chấp động sản số K.0143/TC21 ngày 06/12/2021 giữa Ngân hàng TMCP Đ với anh Võ Minh C, chị Nguyễn Thị T2 theo hợp đồng tín dụng trung hạn số K.0052/1221 ngày 06/12/2021.

Trường hợp anh Võ Minh C và chị Nguyễn Thị Thanh K thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng yêu cầu Cơ quan thi hành án kê biên, phát mãi tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp động sản số K.0143/TC21 ngày 06/12/2021. Nếu số tiền thu từ việc xử lý tài sản đảm bảo không đủ trả nợ thì buộc anh Võ Minh C, chị Nguyễn Thị T2 phải tiếp tục thực hiện trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.

- Bị đơn anh Võ Minh C và chị Nguyễn Thị T2 không có Văn bản ghi ý kiến gửi cho Tòa án.

Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm:

  • Đơn khởi kiện (Bản chính); Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (Bản sao); Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động (Bản sao); QĐ số 163/QĐ-DAB-HĐQT-PC ngày 08/08/2022 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Đ (Bản sao); QĐ số 175/QĐ-DAB-HĐQT-VP ngày 29/12/2023 của Ngân hàng TMCP Đ (Bản sao); QĐ số 137/QĐ-ĐTP ngàyb 01/4/2023 của Giám đốc chi nhánh Đ1 Ngân hàng TMCP Đ (Bản chính); Bản tính lãi (Bản chính); Thông báo thay đổi lãi suất (Bản photo); Bảng kê rút vốn (Bản photo); Hợp đồng tín dụng trung hạn (Bản photo); HĐ thế chấp bất động sản (Bản photo); Phiếu yêu cầu thông báo về việc thế chấp (Bản photo); Phiếu yêu cầu đăng ký biện pháp đảm bảo (Bản photo); VB chứng nhận đăng ký đảm bảo hợp đồng (Bản photo); Chi tiết đơn đăng ký (Bản photo); Phụ lục thông tin về tài sản (Bản photo); TB về việc thực hiện chữ ký số (Bản photo); Giấy đăng ký xe, Giấy chứng minh nhân dân; Giấy chứng nhận kết hôn; Sổ hộ khẩu (Bản photo).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “V/v tranh chấp hợp đồng dân sự tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Võ Minh C và chị Nguyễn Thị Thanh cư T4 tại ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Võ Minh C và chị Nguyễn Thị T2 được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh C, chị T2 theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét tính hợp pháp của Hợp đồng tín dụng trung hạn số K.0052/1221 ngày 06/12/2021.

Xét thấy, sau khi đạt được sự thỏa thuận, Ngân hàng và anh Võ Minh C, chị Nguyễn Thị T2 đã ký kết Hợp đồng tín dụng trung hạn. Tại thời điểm ký kết hợp đồng, Ngân hàng hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần, mã số doanh nghiệp C5; anh C và chị T2 có khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự theo quy định. Do đó, khi ký kết Hợp đồng thì Ngân hàng và anh C, chị T2 đều có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật. Việc giao kết hợp đồng được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên, mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội nên Hợp đồng tín dụng trung hạn giữa Ngân hàng và anh C, chị T2 có hiệu lực pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 117 của Bộ luật dân sự 2015.

[2.2] Xét yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ về việc yêu cầu anh Võ Minh C và chị Nguyễn Thị Thanh thanh T5 cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi là 146.450.123 đồng (Một trăm bốn mươi sáu triệu, bốn trăm năm mươi nghìn, một trăm hai mươi ba đồng). Yêu cầu tính lãi phát sinh từ ngày 09/8/2024 đến khi thanh toán hết khoản nợ.

Xét thấy, sau khi ký kết hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay cho anh C, chị T2. Theo thỏa thuận, anh C và chị T2 có trách nhiệm trả gốc và lãi theo quy định cho Ngân hàng. Tuy nhiên, anh C và chị T2 không thực hiện việc trả nợ cho Ngân hàng theo thỏa thuận. Như vậy, anh C và chị T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng trung hạn. Do đó, Ngân hàng yêu cầu anh Võ Minh C và chị Nguyễn Thị Thanh T3 cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 145.000.000 đồng là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng và khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự 2015.

Về lãi suất: Tại Hợp đồng tín dụng trung hạn đã ký kết, giữa Ngân hàng và anh C, chị T2 có thỏa thuận về lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn. Do đó, Ngân hàng yêu cầu anh C và chị T2 trả số tiền lãi trong hạn 1.445.582 đồng, lãi quá hạn 4.541 đồng và tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 09/8/2024 theo thỏa thuận tại Hợp đồng đã ký kết cho đến khi thanh toán hết khoản nợ là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng và khoản 1 Điều 357, khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các Văn bản tố tụng cho anh Võ Minh C, chị Nguyễn Thị T2 nhưng anh C, chị T2 không có Văn bản ghi ý kiến gửi cho Tòa án. Do đó, anh C và chị T2 phải tự chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình và phải chịu trách nhiệm đối với các khoản vay theo lời trình bày của Ngân hàng.

Từ những phân tích đã nêu trên, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ yêu cầu anh Võ Minh C, chị Nguyễn Thị Thanh thanh T5 cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi là 146.450.123 đồng (Một trăm bốn mươi sáu triệu, bốn trăm năm mươi nghìn, một trăm hai mươi ba đồng) và yêu cầu thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 09/8/2024 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ là có căn cứ chấp nhận.

[2.3] Về tài sản thế chấp: Tại Hợp đồng tín dụng trung hạn Ngân hàng và anh C, chị T2 có thỏa thuận về việc xử lý tài sản thế chấp nếu bên được vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ. Do đó, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng tín dụng để đảm bảo thu hồi nợ là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng và Điều 299 của Bộ luật dân sự 2015.

Sau khi anh C và chị T2 hoàn thành việc trả nợ thì Ngân hàng có trách nhiệm trả lại tài sản thế chấp cho anh C và chị T2 theo Hợp đồng tín dụng trung hạn số K.0052/1221 ngày 06/12/2021 theo quy định tại Điều 302, khoản 4 Điều 313 của Bộ Luật dân sự năm 2015.

[3] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nên anh Võ Minh C và chị Nguyễn Thị T2 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 117, Điều 299, Điều 302, khoản 4 Điều 313, khoản 1 Điều 357, khoản 1 Điều 466, khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

Khoản 2 Điều 91, khoản 1 và khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010;

Điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.

Buộc anh Võ Minh C và chị Nguyễn Thị T2 có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền gốc là 145.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn 1.445.582 đồng, lãi quá hạn 4.541 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 146.450.123 đồng (Một trăm bốn mươi sáu triệu, bốn trăm năm mươi nghìn, một trăm hai mươi ba đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (08/8/2024) anh Võ Minh C và chị Nguyễn Thị T2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng cho vay, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà anh Võ Minh C và chị Nguyễn Thị T2 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Công nhận Hợp đồng thế chấp động sản số K.0143/TC21 ngày 06/12/2021 giữa Ngân hàng TMCP Đ với anh Võ Minh C, chị Nguyễn Thị T2 theo hợp đồng tín dụng trung hạn số K.0052/1221 ngày 06/12/2021.

Trường hợp anh Võ Minh C và chị Nguyễn Thị Thanh K thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng yêu cầu Cơ quan thi hành án kê biên, phát mãi tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp động sản số K.0143/TC21 ngày 06/12/2021. Nếu số tiền thu từ việc xử lý tài sản đảm bảo không đủ trả nợ thì buộc anh Võ Minh C, chị Nguyễn Thị T2 phải tiếp tục thực hiện trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.

Sau khi anh C và chị T2 hoàn thành việc trả nợ thì Ngân hàng có trách nhiệm trả lại tài sản thế chấp cho anh Võ Minh C và chị Nguyễn Thị T2 theo Hợp đồng thế chấp động sản số K.0143/TC21 ngày 06/12/2021.

Về án phí:

Buộc anh Võ Minh C và chị Nguyễn Thị T2 phải chịu 7.323.000 đồng (Bảy triệu, ba trăm hai mươi ba nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.486.000 đồng (Bốn triệu, bốn trăm tám mươi sáu nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0006648 ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án và bản được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Thanh Bình;
  • - CC THA DS huyện Thanh Bình;
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Minh Trung

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2024/DS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng dân sự tín dụng

  • Số bản án: 85/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ. Buộc anh Võ Minh C và chị Nguyễn Thị T2 có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền gốc là 145.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn 1.445.582 đồng, lãi quá hạn 4.541 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 146.450.123 đồng (Một trăm bốn mươi sáu triệu, bốn trăm năm mươi nghìn, một trăm hai mươi ba đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (08/8/2024) anh Võ Minh C và chị Nguyễn Thị T2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng cho vay, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà anh Võ Minh C và chị Nguyễn Thị T2 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay. Công nhận Hợp đồng thế chấp động sản số K.0143/TC21 ngày 06/12/2021 giữa Ngân hàng TMCP Đ với anh Võ Minh C, chị Nguyễn Thị T2 theo hợp đồng tín dụng trung hạn số K.0052/1221 ngày 06/12/2021. Trường hợp anh Võ Minh C và chị Nguyễn Thị Thanh K thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng yêu cầu Cơ quan thi hành án kê biên, phát mãi tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp động sản số K.0143/TC21 ngày 06/12/2021. Nếu số tiền thu từ việc xử lý tài sản đảm bảo không đủ trả nợ thì buộc anhVõ Minh C, chị Nguyễn Thị T2 phải tiếp tục thực hiện trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ. Sau khi anh C và chị T2 hoàn thành việc trả nợ thì Ngân hàng có trách nhiệm trả lại tài sản thế chấp cho anh Võ Minh C và chị Nguyễn Thị T2 theo Hợp đồng thế chấp động sản số K.0143/TC21 ngày 06/12/2021. Về án phí: Buộc anh Võ Minh C và chị Nguyễn Thị T2 phải chịu 7.323.000 đồng (Bảy triệu, ba trăm hai mươi ba nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.486.000 đồng (Bốn triệu, bốn trăm tám mươi sáu nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0006648 ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger