|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 85/2024/DS-PT Ngày: 22/7/2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đình Phương
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Tín
Bà Lê Thị Hạng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Liên - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25 tháng 06 và ngày 16, 22 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 72/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Lê C, sinh năm 1945. Địa chỉ: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
* Bị đơn: Ông Lê Minh V, sinh năm 1969 và bà Trương Thị Ngọc L, sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Tường L1, sinh năm 1984, địa chỉ: S đường A, khu đô thị L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 24/6/2022). Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Yến N, sinh năm 1992.
- Ông Lê Ngọc H, sinh năm 1994.
Cùng địa chỉ: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Yến N và ông Lê Ngọc H: Ông Nguyễn Tường L1, sinh năm 1984, địa chỉ: S đường A, khu đô thị L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (Theo Giấy ủy quyền ngày 08/8/2023). Có mặt.
3. Ủy ban nhân dân thị xã N
Người đại diện theo pháp luật: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã N. Vắng mặt.
* Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Lê C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Lê C trình bày:
Thửa đất số 77, tờ bản đồ 91, xã N có nguồn gốc là của cha mẹ ông C là ông Lê T và bà Hà Thị Q để lại cho ông C. Năm 2007, giữa ông C và vợ là bà Võ Thị Q1 ly hôn phân chia tài sản. Ông C được thỏa thuận chia 7092m² đất ruộng được cấp theo Nghị định 64/CP còn có khoảng 1000m² đất trồng cây lâu năm (đất vườn) của thửa đất số 363 tờ bản đồ 44 (nay là thửa 77 tờ bản đồ 91) xã N. Vị trí đất được xác định hướng đông giáp Quốc lộ A, hướng Tây giáp rào hội trường thôn, hướng Nam giáp đất bà Q1, hướng bắc giáp đường liên thôn và mương N3. Trong quá trình quản lý sử dụng thửa đất số 363 tờ bản đồ 44 xã N nêu trên thì khoảng năm 2000 đến năm 2001, con trai ông là Lê Minh V không có đất ở nên ông có cho ông V 600m² đất để cất nhà ở trong diện tích đất thuộc thửa 363 tờ bản đồ 44. Vì con cháu chưa có đất ở nên ông cho đất nhưng thật sự ông chưa có ký chữ nào cả, chỉ nói cho bằng miệng, không làm giấy tờ gì.
Quá trình sử dụng vợ chồng ông V, bà L xây dựng nhà ở và có rào xung quanh viên gia. Khi thấy vợ chồng V, L rào thì ông có nói tại sao rào hết thì ông V và bà L nói rào tạm thời để có phần đất còn lại trồng cây ăn trái. Khi nào ông lấy lại thì vợ chồng ông V, bà L trả lại cho ông. Vì tình cha con nên ông đồng ý. Nhưng gần đây ông biết được vợ chồng ông V, bà L giả mạo chữ ký của ông lập tờ Giấy phân chia đất viên gia từ đường đề ngày 25/7/2001 để đi kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu và đến năm 2016 cấp đổi lại sổ đối với thửa đất số 363 tờ bản đồ 44 (nay là thửa 77 tờ bản đồ 91) xã N có diện tích là 1090m² (chênh lệch so với diện tích đất trước đó, ông C hứa cho 600m²). Như vậy, ông V đã chiếm đoạt trái phép diện tích của ông là khoảng 490m². Vì vậy, ông khởi kiện và yêu cầu Tòa án tuyên bố “Giấy phân chia đất viên gia từ đường” đề ngày 25-7-2001 vô hiệu và yêu cầu giám định chữ ký của ông trong giấy này, nhưng sau đó vợ chồng ông V, bà L yêu cầu giám định lại chữ ký của ông trong “Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất đề ngày 07/3/2015” thì ông cũng đồng ý; vì chữ ký trong tài liệu này bản thân ông C không ký. Ông yêu cầu Tòa án giải quyết hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH-20950 cấp ngày 16/11/2016 để vợ chồng ông V, bà L chỉ được sử dụng phần diện tích đất mà ông đã cho, phần diện tích còn lại trong thửa đất 77 tờ bản đồ 91 xã N phải trả lại cho ông là 434m². Thửa đất ông tranh chấp với vợ chồng ông V, bà L nay là thửa đất số 77 tờ bản đồ 91 xã N có 1064,9m² trong đó có 200m² đất ở nông thôn và còn lại là đất cây lâu năm.
Người bảo vệ quyền, lợi ích của nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Bị đơn ông Lê Minh V, bà Trương Thị Ngọc L và người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Tường L1 trình bày:
Đối với những yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, phía bị đơn hoàn toàn không đồng ý. Vì thửa đất đang tranh chấp do ông C đã cho vợ chồng ông V, bà L từ năm 1996. Ông V, bà L đã sinh sống ổn định trên thửa đất của mình từ năm 1996 xây cất từ đó đến nay không ai tranh chấp, đông tây tứ cận đã thể hiện đầy đủ, qua 2 lần cấp giấy chứng nhận nhưng không có tranh chấp ranh giới các bên. Vợ chồng ông V, bà L đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu số X 337184, số vào số 02188 QSDĐ/NA-NH do UBND huyện N cấp ngày 16/9/2004.
Năm 2016, thực hiện cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo chương trình Vlap thì giấy chứng nhận của ông V, bà L được cấp đổi thành CĐ 589653 số vào số cấp giấy chứng nhận 20950 ngày cấp 16/11/2016 thửa đất số 77 tờ bản đồ số 91 diện tích 1064,9m². Sở dĩ diện tích có thay đổi là do trước đây khi đo đạc cấp giấy chứng nhận làm thủ công nên không có sự chính xác như khi áp dụng theo chương trình Vlap về cơ bản hộ gia đình nào diện tích cũng tăng lên trong đó có đất của ông V, bà L. Ông V, bà L đã ở tại lô đất nói trên từ năm 1996 và xây nhà ở, xây rào nên hàng xóm đều biết. Mặc khác, tại đơn khởi kiện bổ sung ông C cũng xác định đã cho ông Vũ P đất đó. Tại biên bản hòa giải ngày 07/12/2021 của UBND xã N, ông Trần Thanh H1 đại diện trưởng thôn Ngọc S có xác nhận ông Lê C cho con trai Lê Minh V là đúng. Tại bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 07/3/2015 thì ông C cũng đã ký tên và xác nhận ranh giới. Việc ông C khởi kiện là không có căn cứ, ông C cho rằng mình không biết việc cấp sổ là không đúng sự thật. Việc khởi kiện của ông C không có căn cứ pháp luật đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa không chấp nhận toàn bộ nội dung đơn khởi kiện. Nếu Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C thì phía bị đơn sẽ chịu toàn bộ tiền chi phí tố tụng và hỗ trợ toàn bộ chi phí mà ông C đã chi.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì thửa đất mà nguyên đơn tranh chấp với bị đơn vào năm 1996 bên nguyên đơn đã cho phía bị đơn cất nhà ở ổn định. Bên nguyên đơn biết phía bị đơn kê khai và được cấp giấy chứng nhận nhưng bên nguyên đơn không tranh chấp tại thời điểm đó cũng như khi bị đơn cấp đổi giấy chứng nhận năm 2015, phía nguyên đơn đã ký giáp ranh xác nhận thửa đất.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Yến N, ông Lê Ngọc H do ông Nguyễn Tường L1 đại diện theo ủy quyền trình bày: Thống nhất với toàn bộ trình bày trên của phía bị đơn và không bổ sung gì thêm.
Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê C về việc yêu cầu tuyên bố “Giấy phân chia đất viên gia từ đường” đề ngày 25/7/2001 vô hiệu, yêu cầu hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành X337184, số vào sổ cấp GCN: 02188 QSDĐ/NA-NH cấp ngày 16/9/2004 đối với thửa 363 tờ bản đồ 44 cũ xã N và được cấp đổi lại là thửa đất số 77, tờ bản đồ 91, xã N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành là CĐ 589653, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH-20950 cấp ngày 16/11/2016 do UBND huyện N (nay là thị xã N) cấp cho ông Lê Minh V, bà Trương Thị Ngọc L, và yêu cầu ông Lê Minh V, bà Trương Thị Ngọc L trả cho ông nguyên đơn Lê Chọn 434 m² đất thuộc thửa đất số 77 tờ bản đồ 91 xã N có kí hiệu 77-2 trên mảnh trích đo số 82/2023 (có mảnh trích đo kèm theo).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quy định chung và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 29/9/2023, nguyên đơn ông Lê C có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Nguyên đơn thừa nhận cho bị đơn 600m² đất nhưng chỉ nói bằng miệng không lập giấy tờ gì. Tuy nhiên, bị đơn đã tự làm giả giấy tờ chiếm toàn bộ lô đất hơn 1.000m² là không đúng nên nguyên đơn yêu cầu trả lại diện tích đất nằm ngoài phần đất đã cho.
- - Bị đơn xác định nguyên đơn đã cho bị đơn toàn bộ thửa đất nên quá trình kê khai, đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông không phản đối nên nguyên đơn đòi lại đất là không có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- - Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tại phiên tòa phúc thẩm: Theo Giấy phân chia đất viên gia từ đường kết quả giám định xác định ông C không ký, không viết nên tuyên vô hiệu là có cơ sở. Quá trình giải quyết vụ án, ông C chỉ thừa nhận cho 600m² nhưng thực tế cho thấy bị đơn đã quản lý và đăng ký quyền sử dụng đất toàn bộ thửa đất 363, tờ bản đồ 44, xã N. Theo Sơ đồ ký giáp ranh 2016, ông C đã ký và được cấp đổi giấy chứng nhận cho bị đơn nên ông C đòi lại một phần thửa đất nêu trên là không có cơ sở. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm: Tuyên vô hiệu giấy phân chia đất viên gia từ đường, không chấp nhận yêu cầu nguyên đơn về tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Ngày 21/09/2023, Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa xét xử vụ án. Ngày 29/09/2023, nguyên đơn kháng cáo bản án nêu trên. Như vậy, đơn kháng cáo trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn:
[2.1] Về nguồn gốc đất, việc cho đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Về nguồn gốc đất: Bị đơn cho rằng theo nguồn gốc đất được ông Lê C cho theo Giấy phân chia đất viên gia từ đường năm 2001. Căn cứ Kết luận giám định số 433/GĐ-GT/2022 ngày 31/10/2022 của Phòng K Công an tỉnh K đối với Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 07/3/2012, kết luận giám định là chữ ký của ông Lê C. Bị đơn cho rằng kết luận giám định này để xác định thực tế kê khai, quản lý, sử dụng của bị đơn và nguyên đơn không phản đối nên nguyên đơn đã thừa nhận cho bị đơn toàn bộ thửa đất trên, đã được cơ quan có thẩm quyền cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn năm 2016 nên việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn là đúng pháp luật.
- Xét việc cho đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn: Theo Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày 26/7/2001 của ông Lê Minh V và bà Trương Thị Ngọc L kê khai nguồn gốc thửa đất 363, tờ bản đồ 44 (nay thửa 77, tờ bản đồ 91) tại xã N, thị xã N là của cha (Lê C) cho con tháng 07/2001. Căn cứ vào Giấy phân chia đất viên gia từ đường ngày 25/7/2001 với nội dung ông Lê C, bà Võ Thị Q1 cho ông Lê Minh V, bà Trương Thị Ngọc L đối với thửa đất trên. Ngày 16/9/2004, Ủy ban nhân dân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Minh V và bà Trương Thị Ngọc L theo nguồn gốc kê khai như trên. Quá trình giải quyết vụ án, ông C xác định không viết Giấy phân chia đất viên gia từ đường cho ông V, bà L toàn bộ thửa đất trên mà chỉ thừa nhận có cho bằng miệng (không lập giấy tờ) 600m², thuộc một phần thửa 363 cũ. Theo kết luận giám định số 146/GĐ-GT/2022 ngày 23/5/2022 của Phòng K Công an tỉnh K đã kết luận chữ ký trong Giấy phân chia đất viên gia từ đường ngày 25/7/2001 không phải chữ ký của ông C. Do đó, bị đơn căn cứ vào giấy cho đất này để kê khai nguồn gốc toàn bộ thửa đất nêu trên và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng pháp luật. Tuy nhiên, ông C thừa nhận có cho bị đơn bằng miệng 600m² đất. Theo kết quả xem xét thẩm định tại giai đoạn sơ thẩm ông C xác định phần đất đã cho là phần ký hiệu thửa đất 77-1, diện tích 625m² (theo Mảng trích đo địa chính xã N). Theo phân tích trên, mặt dù ông V, bà L căn cứ giấy tờ nguồn gốc đất không đúng để kê khai và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông C thừa nhận có cho một phần diện tích ký hiệu 77-1 nên việc kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất ký hiệu 77-1 là phù hợp nguồn gốc. Vì vậy, phần diện tích còn lại ký hiệu 77-2, diện tích 434m² nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại là có cơ sở.
[2.2] Xét yêu cầu hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu trả lại đất:
Việc bị đơn căn cứ vào giấy tờ cho đất không đúng để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2004 và dựa vào hồ sơ này để yêu cầu cấp đổi lại vào năm 2016 cũng không đúng pháp luật. Bị đơn căn cứ vào Sơ đồ mô tả ranh giới, mốc giới để xác định ông C đã cho toàn bộ thửa đất theo giấy cho đất từ năm 2001 là không đúng. Như vậy, hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu không đúng nhưng bị đơn được cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2016 đối với toàn bộ thửa đất 77 thuộc về bị đơn là mâu thuẫn và không có cơ sở.
- - Theo phân tích nêu trên, ông C đã cho miệng một phần diện tích thửa 77-1 nên không cần thiết phải huỷ các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên mà tuyên chỉnh lý lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2016 đứng tên bị đơn đối với diện tích phần đất ký hiệu 77-1 là phù hợp và buộc bị đơn trả cho nguyên đơn diện tích 434m², ký hiệu phần 77-2.
- - Đối với phần tài sản trên đất: Nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận trên phần đất tranh chấp có 09 cây dừa và hàng rào lưới B40 dài 59m. Tại phiên toà phúc thẩm, hàng rào rào lưới B40 hai bên thoả thuận thống nhất đơn giá 422.000đồng/m. Thành tiền 24.898.000đồng, dừa 690.000đồng/cây. Do đó, nguyên đơn được sở hữu 09 cây dừa, hàng rào nêu trên và thanh toán lại giá trị tài sản theo quy định.
[2.3] Đối với đất thổ cư của thửa 77:
Đối với thửa đất tranh chấp được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2016 có diện tích là 1.064,9m², trong đó có 200m² đất thổ cư (diện tích thực tế 1.059m²). Diện tích nguyên đơn trả lại cho bị đơn là 434m² tương ứng với 41% diện tích thửa 77. Vậy diện tích đất ở 200m² trong tổng số diện tích tuyên trả được xác định tỉ lệ phần trăm nêu trên để đảm bảo quyền lợi công bằng. Vậy diện tích bị đơn trả cho nguyên đơn là 434m², trong đó có 80m² đất ở (làm tròn).
Trên cơ sở phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Nguyên đơn được miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[4] Chi phí tố tụng: Bị đơn tự nguyện chịu chi phí giám định nên ghi nhận. Bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định và định giá. Nguyên đơn tạm ứng số tiền này nên bị đơn phải thanh toán lại cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử: Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lê C, sửa bản án dân sự sơ thẩm.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê C về việc tuyên bố “Giấy phân chia đất viên gia từ đường” đề ngày 25/7/2001 vô hiệu.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê C về việc buộc ông Lê Minh V, bà Trương Thị Ngọc L trả cho ông Lê C 434m² đất (trong đó có 80m² đất ở) thuộc một phần thửa đất số 77, tờ bản đồ 91 xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa (có kí hiệu 77-2 trên mảnh trích đo số 82/2023).
Ông Lê C được quyền sở hữu 09 cây dừa và hàng rào lưới B40 dài 59m (03 mặt Bắc, Nam và Đ) trên phần đất được trả nêu trên và thanh toán lại cho ông Lê Minh V, bà Trương Thị Ngọc L số tiền 31.108.000đồng (Ba mươi mốt triệu một trăm lẻ tám nghìn đồng).
- Ủy ban nhân dân thị xã N chỉnh lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành là CĐ 589653, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH-20950 ngày 16/11/2016 cấp cho ông Lê Minh V, bà Trương Thị Ngọc L (không bao gồm phần diện tích trả cho ông Lê C nêu trên).
Sơ đồ mảnh trích đo kèm theo.
Ông Lê C được quyền đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật đối với phần diện tích ông C được trả.
* Về án phí:
- - Ông Lê Minh V, bà Trương Thị Ngọc L phải chịu 600.000đồng (Sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- - Ông Lê C được miễn án phí sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định pháp luật.
* Về chi phí tố tụng:
- - Ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn chịu toàn bộ chi phí giám định.
- - Bị đơn phải thanh toán lại cho nguyên đơn chi phí xem xét, thẩm định và định giá số tiền 17.042.000đồng (Mười bảy triệu không trăm bốn mươi hai nghìn đồng).
* Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Đình Phương |
Bản án số 85/2024/DS-PT ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 85/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
