Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 85/2021/HNGĐ-ST

Ngày: 06-7-2021

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, nuôi con chung”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung
  2. Bà Diệp Thị Thu Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Trí Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em – Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 148/2021/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2021 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 157A/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị K, sinh năm 1991 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp TL, xã TT, huyện TrT, tỉnh An Giang

- Bị đơn: Anh Trịnh Trung T, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp TB.A, xã VC, huyện ThS, tỉnh An Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Phạm Thị K trình bày:

Chị K và anh T chung sống với nhau từ năm 2007, hôn nhân do cả hai tự tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 28/4/2010 tại UBND xã Vĩnh Chánh, huyện Thoại Sơn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng lâu dần bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do tính tình không hợp vì anh T có tính gia trưởng, mọi việc lớn nhỏ anh T đều tự quyết định theo ý mình mà không bàn bạc với chị K khiến chị cảm thấy mình không được tôn trọng, mặc dù đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh T vẫn không thay đổi khiến cho mâu thuẫn càng lúc càng trầm trọng nên đã quyết định sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Nay nhận thấy không thể hàn gắn nên chị K yêu cầu được ly hôn với anh T.

- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống có hai con chung tên Trịnh Thị Thùy T, sinh ngày 26/01/2008 và Trịnh Thị Anh T, sinh ngày 21/01/2013. Hiện nay hai con đang sống chung với chị K, khi ly hôn chị K yêu cầu được nuôi hai con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về quan hệ tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có nợ chung ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức các phiên hòa giải để chị K và anh T thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T nhưng anh T đều vắng mặt không lý do nên việc hòa giải không tiến hành được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho anh T nhưng anh T tiếp tục vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.

Tại phiên tòa: Chị K vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ly hôn với anh T và yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn trình bày quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Anh T vắng mặt lần thứ hai không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị K, cho chị K được ly hôn anh T. Về con chung, giao cháu Trịnh Thị Thùy T và Trịnh Thị Anh T cho chị Phạm Thị K tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, ghi nhận chị K không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét. Chị K phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Thị K và anh Trịnh Trung T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 30, quyển số 01/2010 do UBND xã Vĩnh Chánh, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang cấp ngày 28/4/2010). Anh Trịnh Trung T có hộ khẩu thường trú tại: Ấp TB.A, xã VC, huyện ThS, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, anh Trịnh Trung T vắng mặt không lý do, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

[3] Xét việc tranh chấp:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị K và anh T xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 28/4/2010 tại UBND xã Vĩnh Chánh, huyện Thoại Sơn theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Theo chị K trình bày nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, vì anh T có tính gia trưởng, độc đoán, không tôn trọng và lắng nghe ý kiến của chị khiến cho mâu thuẫn giữa hai người ngày càng lớn và không thể hàn gắn được. Trong thời gian sống ly thân hai bên cũng không có ý muốn hàn gắn.

[3.2] Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương và tôn trọng nhau. Trong đời sống vợ chồng giữa chị K và anh T vì không có sự tôn trọng lẫn nhau, không lắng nghe ý kiến của nhau nên thường xuyên xảy ra cự cãi, bất hòa. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở các phiên hòa giải để cả hai có cơ hội hàn gắn nhưng anh T đều vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị K cho thấy mâu thuẫn của cả hai đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị K là có cơ sở. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị K.

[4] Về con chung: Quá trình chung sống có hai con chung tên Trịnh Thị Thùy T, sinh ngày 26/01/2008 và Trịnh Thị Anh T, sinh ngày 21/01/2013. Khi ly hôn, chị K yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành ghi nhận ý kiến của cháu T và cháu T đã thể hiện nguyện vọng của các cháu muốn sống với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Hội đồng xét xử xét yêu cầu của chị K phù hợp nguyện vọng của các con, đồng thời việc giao con chung cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng nhằm đảm bảo sự ổn định về tâm lý của cháu nên yêu cầu của chị K là có cơ sở chấp nhận. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã giải thích cho chị K về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung đối với người trực tiếp nuôi con chung, cũng như nghĩa vụ cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi con chung nhưng chị K vẫn giữ nguyên ý kiến của mình, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định công nhận sự tự nguyện của chị K về việc không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về tài sản chung: Chị K trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh T không có văn bản nêu ý kiến và yêu cầu nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

[6] Về nợ chung: Theo trình bày của chị K không có nợ chung, anh T vắng mặt và cũng không có văn bản nêu ý kiến và yêu cầu nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

[7] Về án phí: Chị Phạm Thị K phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định. Anh Trịnh Trung T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị K.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị K được ly hôn anh Trịnh Trung T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 30, quyển số 01/2010 do UBND xã Vĩnh Chánh, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang cấp ngày 28 tháng 4 năm 2010 cho chị Phạm Thị K và anh Trịnh Trung T không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cháu Trịnh Thị Thùy T, sinh ngày 26/01/2008 và cháu Trịnh Thị Anh T, sinh ngày 21/01/2013 cho chị Phạm Thị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trịnh Trung T không cấp dưỡng nuôi con.

Anh Trịnh Trung T và các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của chị Phạm Thị K. Chị Phạm Thị K và các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh Trịnh Trung T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị K phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị K đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2019/0008326 ngày 19 tháng 4 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn.

Anh Trịnh Trung T không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Các đương sự không phải chịu các chi phí tố tụng khác.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND huyện Thoại Sơn (1);
  • - THADS huyện Thoại Sơn (1);
  • - UBND xã Vĩnh Chánh (1);
  • - Các đương sự (2);
  • - Lưu văn phòng (1);
  • - Lưu hồ sơ (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Thị Mỹ Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 85/2021/HNGĐ-ST ngày 06/07/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang về tranh chấp hôn nhân và gia đình: ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 85/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/07/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Phạm Thị K yêu cầu ly hôn anh Trịnh Trung T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger