|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 85 /2021/DS-PT Ngày 01 - 3 - 2021 V/v tranh chấp “Hợp đồng đặt cọc”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Việt Trung.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Phong.
Ông Trương Vĩnh Hữu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Trung Hiếu - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22 tháng 02 và ngày 01 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 14/2021/TLPT-DS ngày 05/01/2021 về việc tranh chấp “Hợp đồng đặt cọc”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 227/2020/DS-ST ngày 16/9/2020 của Toà án nhân dân huyện AA, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 636/2021/QĐ-PT ngày 27/01/2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Mai Hoàng Quốc A, sinh năm 1981.
Địa chỉ: 115B, đường AB, thị xã AC, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn anh Mai Hoàng Quốc A: Anh Nguyễn Hữu B, sinh năm 1974 (có mặt) (là đại diện theo ủy quyền theo Giấy ủy quyền ngày 22/02/2021).
Địa chỉ: Khu phố 2, Phường 5, thị xã AC, tỉnh Tiền Giang. - Bị đơn: Bà Đoàn Thị C, sinh năm 1969 (có mặt).
Địa chỉ: ấp AD, xã AE, huyện AA, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn bà Đoàn Thị C: Ông Trần Văn D, sinh năm 1959 (có mặt) (là đại diện theo ủy quyền theo Giấy ủy quyền ngày 01/9/2020).
Địa chỉ: Khu phố AF, thị trấn AG, huyện AH, tỉnh Tiền Giang. - Người kháng cáo: Bị đơn bà Đoàn Thị C.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo bản án sơ thẩm, anh Nguyễn Hữu B - đại diện ủy quyền của nguyên đơn anh Mai Hoàng Quốc A trình bày:
Ngày 04/6/2019, bà C có đồng ý chuyển nhượng cho anh A phần đất diện tích là 125,7m2, thuộc thửa 46, tọa lạc tại thị trấn AG, huyện AH, tỉnh Tiền Giang với số tiền là 550.000.000 đồng.
Sau hai lần nhận cọc với số tiền là 200.000.000 đồng (lần 1: là 100.000.000 đồng, lần 2: là 100.000.000 đồng, cả hai lần đều có làm biên nhận) thì anh A và bà C hẹn nhau 12/7/2019 sẽ ra làm hợp đồng công chứng và đưa đủ số tiền 350.000.000 đồng còn lại.
Đúng hẹn vào ngày 12/7/2019, bà C có đưa cho anh A toàn bộ giấy tờ để làm thủ tục chuyển nhượng. Anh A liên hệ với Văn phòng công chứng số 2 và được cô Trang là chuyên viên tiếp nhận hồ sơ hẹn lại cuối buổi chiều anh A và bà C sẽ ký. Anh A cũng đã thông báo cho bà C biết để đến công chứng và tại đây anh A sẽ giao đủ tiền cho bà C.
Đến hơn 14h cùng ngày, cô Trang báo lại cho anh A là tên bà C bị sai ở “dấu hỏi” và “dấu ngã” cần phải điều chỉnh. Lúc này, bà C hẹn 15h sẽ đến Văn phòng công chứng số 2 để điều chỉnh. Anh A ngồi tại Văn phòng công chứng số 2 đợi bà C cho đến khi Văn phòng công chứng nghỉ làm việc nhưng bà C vẫn không tới nên anh A không thể giao cho bà C số tiền còn lại cũng như làm hợp đồng chuyển nhượng. Đến 17h bà C mới trả lời điện thoại là ‘đang chuẩn bị từ Vàm Láng chạy về thị xã AC” lúc này Phòng công chứng đã nghỉ làm việc. Tối đến bà C báo là bà đã về đến nhà ở xã AE, huyện AA, tỉnh Tiền Giang, bà C không ghé qua Phòng Công Chứng cho dù có trễ. Do lo sợ giao dịch không thành, nên tầm hơn 21h ông A chạy đến nhà bà C để giao tiền trước và hẹn bà C sáng mai ra công chứng sau, nhưng bà C dứt khoát không nhận và cho rằng anh A đã vi phạm hợp đồng đặt cọc, qua nhiều lần giải thích nhưng không được.
Sau đó bà C không làm thủ tục chuyển nhượng cho anh A mà chuyển nhượng phần đất trên cho người khác. Bà C đã vi phạm nghĩa vụ, không đến Văn phòng công chứng để làm hợp đồng chuyển nhượng nên anh A khởi kiện yêu cầu bà C trả lại số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng và tiền phạt cọc là 400.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa phía anh A thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau: anh A yêu cầu bà C trả lại cho anh A số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng và phạt cọc theo cách tính tiền lãi từ ngày 06/12/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm với lãi suất 0,83%/tháng. Trả tiền làm 01 lần khi án có hiệu lực pháp luật.
* Bị đơn bà Đoàn Thị C và ông Trần Văn D - đại diện theo ủy quyền của bà Đoàn Thị C thống nhất trình bày:
Bà C và ông Mai Hoàng Quốc A có thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 46, tờ bản đồ số 19, diện tích 125,7m2 tọa lạc tại thị trấn AG, huyện AH do UBND huyện AH cấp cho bà đứng tên ngày 04/6/2019. Ngày 04/6/2019 bà và anh A gặp nhau và thỏa thuận chuyển nhượng phần đất trên với giá là 550.000.000 đồng, ngày 04/6/2019 anh A sẽ giao cho bà số tiền cọc là 100.000.000 đồng, ngày 12/6/2019 anh A sẽ tiếp tục giao cho bà 100.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận ngày 12/7/2019 anh A sẽ giao đủ cho bà số tiền 350.000.000 đồng, bà sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng. Nếu bên chuyển nhượng không thực hiện chuyển nhượng thì chấp nhận trả lại gấp 03 lần số tiền cọc, nếu bên mua không thực hiện đúng thì bị mất tiền cọc.
Ngày 04/6/2019 anh A đã giao cho bà số tiền 100.000.000 đồng, bà đã nhận đủ. Đến ngày 12/6/2019 thì anh A không giao tiền như trong thỏa thuận mà đến ngày 16/6/2019 anh A mới đưa bà số tiền cọc 100.000.000 đồng như thỏa thuận và bà đã nhận đủ. Do lần thứ hai anh A giao tiền không đúng ngày nên khoảng gần 20 ngày nữa đến ngày 12/7/2019 thì bà có điện thoại hỏi anh A có giao tiền đúng ngày được không, anh A trả lời sẽ thực hiện đúng như thỏa thuận giữa hai bên. Đến ngày 12/7/2019, khoảng 13 giờ bà có hẹn anh A tại quán cà phê Cầu Đào (Thị xã AC) để giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh A đến Văn phòng công chứng làm hợp đồng chuyển nhượng trước khi nào làm xong thì gọi bà đến ký tên và giao tiền. Khi xảy ra việc dấu “hỏi”, dấu “ngã” thì bà có gọi cho chị Trang Văn phòng công chứng số 2, thị xã AC để cho anh A ký tên trước, bà chỉnh sửa tên của bà sau và chị Trang đồng ý. Bà đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh A nhưng đến 17h bà C liên lạc anh A thì anh A trả lời không kịp. Bà C nghe vậy có yêu cầu anh A giao trước 300.000.000 đồng để giao tiền cho bên bà mua đất vì đã hứa nhưng đến khoảng 21h cùng ngày thì anh A cũng không giao tiền và không liên lạc nữa. Đến khoảng 10h cùng ngày anh A có đến nhà bà C nói còn thời giao giao dịch vì chưa hết 12 giờ đêm. Bà C không yêu cầu anh A đưa tiền, anh A cũng không đề nghị hay cầm tiền đưa bà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét xác định mối quan hệ tranh chấp, thẩm quyền và áp dụng pháp luật trong việc giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật dân sự và tố tụng dân sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Đoàn Thị C; Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào lời trình bày và thừa nhận của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm thể hiện: Ngày 04/6/2019 giữa bà Đoàn Thị C và anh Mai Hoàng Quốc A ký kết Biên nhận, thỏa thuận giao nhận tiền đặt cọc số tiền 200.000.000 đồng là để đảm bảo việc bà Đoàn Thị C đồng ý chuyển nhượng cho anh Quốc A thửa đất số 46, diện tích 125,7m2 và nhà gắn liền với đất, tọa lạc tại thị trấn AG, huyện AH với giá 550.000.000 đồng. Tại thời điểm ký kết giao dịch đặt cọc, anh A và bà C đều tự nguyện, không bị ép buộc, các bên giao kết hợp đồng có năng lực hành vi dân sự phù hợp với quy định của pháp luật; hai bên đã thỏa thuận miệng với nhau vào ngày 12/7/2019, sẽ làm thủ tục công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giao đủ số tiền còn lại 350.000.000 đồng khi làm xong thủ tục công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nếu bên nào sai thì bên chuyển nhượng sẽ bị phạt cọc số tiền gấp ba lần tiền cọc, bên nhận chuyển nhượng bị mất cọc.
Vào ngày 12/7/2019, anh A có đến Phòng công chứng số 2, thị xã AC để thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhưng do giấy tờ có sự sai sót tên của bà C ở dấu “hỏi” và dấu “ngã”, anh A có nhiều lần gọi zalo đề nghị bà C đến để chỉnh sửa giấy tờ nhưng bà C không đến.
Như vậy, do việc sai tên trên giấy tờ của bà C chưa thể lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang cho anh A, không phải lỗi của anh A, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chưa được ký kết, nên anh A không giao đủ số tiền còn lại theo như thỏa thuận miệng giữa hai bên là hoàn toàn phù hợp; do đó lỗi không thể giao kết được hợp đồng là của bà C.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 227/2020/DS-ST ngày 16/9/2020 của Toà án nhân dân huyện AA, tỉnh Tiền Giang.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Mai Hoàng Quốc A đối với bà Đoàn Thị C.
Buộc bà C phải trả lại cho anh A số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) và tiền phạt cọc (tính theo lãi suất) 15.493.000 đồng. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật. - Về án phí:
2.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà C nộp 10.774.650 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
2.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Đoàn Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Tiền Giang; - TAND huyện AA; - THADS huyện AA; - Đăng cổng B tin điện tử; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. DSPT-2021-H |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Việt Trung |
Bản án số 85 /2021/DS-PT ngày 01/03/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang về tranh chấp “hợp đồng đặt cọc”
- Số bản án: 85 /2021/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp “Hợp đồng đặt cọc”
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 01/03/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng đặt cọc
