|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:849/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04/12/2024 V/v: ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phúc Tuấn
Bà Nguyễn Thị Bích Liên
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, TP Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 652/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐ-ST ngày 16 tháng 10 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 67/QĐ-ST ngày 14/11/2024;
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Công T, sinh năm 1992. HKTT và hiện ở: Số nhà E, tổ E, phường P, quận H, TP Hà Nội (có mặt)
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1993. HKTT: Số nhà E, tổ E, phường P, quận H, TP Hà Nội. Hiện ở: vắng mặt tại nơi cư trú cuối cùng, không rõ địa chỉ (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu tiếp theo trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn - anh Nguyễn Công T trình bày như sau:
Anh Nguyễn Công T và chị Nguyễn Thị M đăng ký kết hôn ngày 29/12/2011 tại UBND phường P, quận H, TP Hà Nội. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại địa chỉ số nhà E, tổ E, phường P, quận H, TP Hà Nội. Quá trình chung sống hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng. Chị Nguyễn Thị M đã bỏ đi khỏi địa chỉ số nhà E tổ E phường P, quận H, TP Hà Nội từ thời điểm tháng 9/2023 đến nay, chị M không thông báo cho anh T biết chị M đi đâu nên anh T không biết địa chỉ hiện nay của chị M.
Nay, anh Nguyễn Công T có đơn đề nghị xin ly hôn với chị M để tạo dựng cuộc sống mới.
-Về con chung: anh Nguyễn Công T và chị Nguyễn Thị M có 02 con chung là cháu Nguyễn Công P sinh ngày 09/11/2014 và cháu Nguyễn Công T1 sinh ngày 20/7/2012. Từ khi chị M bỏ đi, không có trách nhiệm gì với con, không về thăm con, một mình anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung, hai con đều muốn ở với bố, vì vậy, ly hôn, anh T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng hai con, không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay, anh đang ở cùng bố mẹ trên diện tích đất 60m2, có nhà 04 tầng thuộc sở hữu của bố mẹ anh, anh có công việc là lái xe tư nhân, thu nhập trung bình 22.000.000 đồng/tháng, hai con đều học trường gần nhà, cháu T1 đang học trường C, cháu P đang học trường C, hàng ngày anh sẽ đưa đón hai con đi học, hôm nào anh bận, có ông bà nội ở cùng giúp cơm nước và đưa đón cháu, buổi tối anh dạy con học và chăm sóc con.
-Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-Đối với bị đơn - chị Nguyễn Thị M:
+Về địa chỉ của chị M:
Tại biên bản xác minh ngày 27/3/2024, Công an phường P, quận H cho biết: Chị Nguyễn Thị M có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại tổ E, phường P, quận H, TP Hà Nội cùng anh Nguyễn Công T, gia đình gồm hai vợ chồng và hai con nhỏ. Tuy nhiên, đến thời điểm khoảng tháng 12/2023, chị Nguyễn Thị M đã đi khỏi nơi cư trú và không đăng ký tạm vắng tại Công an phường P, vì vậy cơ quan công an không nắm được chị M đi đâu và hiện nay đang ở đâu.
Tại công văn số 47/CAXML ngày 26 tháng 3 năm 2024, Công an xã M, huyện C cho biết: chị Nguyễn Thị M không cư trú tại gia đình ông Nguyễn Viết B, bà Kim Thị T2 (là bố mẹ đẻ của chị M) ở địa chỉ xóm Đ, thôn M, xã M, huyện C, TP Hà Nội.
-Tại biên bản xác minh ngày 11/6/2024, gia đình bố mẹ chị M trình bày: quá trình anh T, chị M kết hôn, chung sống, có hai con chung đúng như anh T trình bày, đối với việc anh T xin ly hôn chị M do anh T chị M tự quyết định, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về nuôi con chung: ông bà đồng ý anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng hai con chung, về tài sản chung của anh T chị M: ông bà không nắm được. Hiện nay ông bà không nắm được chị M đang ở đâu, nếu chị M có liên lạc về gia đình, ông bà sẽ thông báo nội dung vụ án cho chị M được biết. Ông bà đã nhận các văn bản tố tụng Tòa án giao và sẽ thông báo cho chị M.
Tại công văn số 2446/QLXNC-QLXC ngày 03/4/2024 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an T4 cho biết: Chị Nguyễn Thị M đã xuất cảnh ngày 23/4/2018 qua cửa khẩu N.
Ngày 12/6/2024, Tòa án nhân dân quận Hà Đông đã chuyển vụ án đến Tòa án nhân dân TP Hà Nội để giải quyết theo thẩm quyền vì vụ án có đương sự là chị Nguyễn Thị M đang ở nước ngoài theo quy định tại khoản 3 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại quyết định chuyển vụ án số 231/2024/QĐ-CVA ngày 14/8/2024, Tòa án nhân dân TP Hà Nội đã chuyển vụ án về Tòa án nhân dân quận Hà Đông để giải quyết theo thẩm quyền vì chị M đã nhập cảnh về Việt Nam ngày 24/8/2018 (theo trả lời tại Công văn số 7239/QLXNC ngày 26/7/2024 của Phòng quản lý XNC C1).
Tòa án nhân dân quận Hà Đông đã tiếp tục thụ lý giải quyết vụ án. Tại biên bản xác minh ngày 16/10/2024, công an phường P cho biết: chị Nguyễn Thị M tại thời điểm xác minh không sinh sống tại gia đình anh Nguyễn Công T tại tổ E phường P, quận H, TP Hà Nội, chị M chuyển đi đâu không thông báo nên địa phương không nắm được.
Tại Biên bản xác minh ngày 16/10/2024, tại gia đình bố mẹ chị M tại xóm Đ, thôn M, xã M, huyện C, bà Kim Thị T2, gia đình bố mẹ chị M cho biết: hiện nay chị M đi đâu, gia đình ông bà không nắm được, chị M không đăng ký tạm trú tại xã M và không ở tại gia đình ông bà. Ông Lê Đình T3, trưởng thôn M cho biết: hiện nay chị M không đăng ký tạm trú và không ở tại xóm Đ, thôn M.
Do chị M vắng mặt tại nơi cư trú, Tòa án nhân dân quận Hà Đông đã tiến hành thủ tục niêm yết văn bản tố tụng tại gia đình anh T, chị M tại phường P, UBND phường P, tại gia đình bố mẹ chị M tại xã M, UBND xã M, là nơi cư trú cuối cùng của chị M theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
-Anh T có mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và lời khai.
-Chị M đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
+Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án. Các đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+Về nội dung: quan hệ hôn nhân của anh Nguyễn Công T và chị Nguyễn Thị M là hợp pháp. Đến nay mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, chị M bỏ đi khỏi nơi cư trú từ tháng 9/2023, xác định anh chị đã ly thân từ tháng 9/2023 đến nay, mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể đoàn tụ. Anh T có đơn xin ly hôn với chị M để tạo dựng cuộc sống mới. Xét yêu cầu của anh T là chính đáng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Về con chung: chị M đi khỏi nơi cư trú, không có trách nhiệm với con, hai con còn nhỏ, đang ở với anh T, anh T đề nghị được nuôi cả hai con: để đảm bảo quyền lợi của con chung, đề nghị giao hai con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, nợ chung: anh T không yêu cầu tòa án giải quyết, chị M vắng mặt, vì vậy đề nghị giành quyền khởi kiện cho anh chị trong vụ án khác nếu có yêu cầu. Về án phí: anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: anh Nguyễn Công T có đơn xin ly hôn chị Nguyễn Thị M, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của chị Nguyễn Thị M tại tổ E phường P, quận H, TP Hà Nội. Vì vậy, Tòa án nhân dân quận Hà Đông thụ lý, giải quyết vụ án theo thẩm quyền theo loại việc, theo cấp toà án và theo lãnh thổ quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Công T:
Anh Nguyễn Công T và chị Nguyễn Thị M đăng ký kết hôn ngày 29/12/2011 tại UBND phường P, quận H, vì vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại địa chỉ số nhà E, tổ E, phường P, quận H, TP Hà Nội. Quá trình chung sống hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn trầm trọng. Chị Nguyễn Thị M đã bỏ đi khỏi địa chỉ số nhà E tổ E phường P, quận H, TP Hà Nội từ thời điểm tháng 9/2023 đến nay, không thông báo cho anh T biết, không thông báo cho cơ quan công an, chính quyền địa phương biết nên không nắm được địa chỉ của chị M hiện nay đang ở đâu. Theo trả lời của Phòng Q Công an T4 và các biên bản xác minh tại cơ quan công an, hiện nay, chị M đã nhập cảnh về Việt Nam nhưng không có mặt tại nơi cư trú, gia đình và địa phương đều không nắm được chị M đang ở đâu. Việc chị M bỏ đi khỏi nơi cư trú như vậy thể hiện chị M không có trách nhiệm với gia đình, với các con, anh T xác định không còn tình cảm với chị M, vợ chồng không thể đoàn tụ. Xét, anh T có đơn xin ly hôn chị M để tạo dựng cuộc sống mới, nuôi dạy các con là chính đáng, cần chấp nhận.
-Về con chung: anh Nguyễn Công T và chị Nguyễn Thị M có 02 con chung là cháu Nguyễn Công P sinh ngày 09/11/2014 và cháu Nguyễn Công T1 sinh ngày 20/7/2012. Từ khi chị M bỏ đi, không có trách nhiệm với con, không về thăm con, không đóng góp nuôi con, một mình anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung, hai con đều còn nhỏ, đang ở với bố, đều có ý kiến xin ở với bố. Về điều kiện nuôi con: theo anh T trình bày: hiện nay, anh đang ở cùng bố mẹ trên diện tích đất 60m2, có nhà 04 tầng thuộc sở hữu của bố mẹ anh, anh có công việc là lái xe tư nhân, thu nhập trung bình 22.000.000 đồng/tháng, hai con đều học trường gần nhà, cháu T1 đang học trường THCS C, cháu P đang học trường tiểu học C, hàng ngày anh đưa đón hai con đi học, có ông bà nội ở cùng giúp cơm nước và đưa đón các con, buổi tối anh dạy con học và chăm sóc con. Xét: nguyện vọng nuôi hai con của anh T là chính đáng, anh T có đủ điều kiện nuôi con, chị M đã bỏ đi khỏi nơi cư trú, để đảm bảo quyền lợi của con chung, cần chấp nhận yêu cầu của anh T, giao hai con chung cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
-Về cấp dưỡng nuôi con: ghi nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con.
-Về tài sản chung, nợ chung: anh T không yêu cầu tòa án giải quyết, chị M vắng mặt, vì vậy giành quyền khởi kiện cho anh chị trong vụ án khác nếu có yêu cầu.
-Về án phí: anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 88 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 2 Điều 227 Điều 235, Điều 266, 271 272 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 1 Mục I, Danh mục án phí lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Nguyễn Công T đối với chị Nguyễn Thị M. Anh Nguyễn Công T được ly hôn chị Nguyễn Thị M.
- Về con chung: anh Nguyễn Công T và chị Nguyễn Thị M có 02 con chung là cháu Nguyễn Công P sinh ngày 09/11/2014 và cháu Nguyễn Công T1 sinh ngày 20/7/2012. Giao hai con chung là cháu Nguyễn Công P và cháu Nguyễn Công T1 cho anh Nguyễn Công T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Công T không yêu cầu chị Nguyễn Thị M cấp dưỡng nuôi con cho đến khi có sự thay đổi khác. Chị Nguyễn Thị M được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
- Về tài sản chung, nợ chung: giành quyền khởi kiện cho anh Nguyễn Công T và chị Nguyễn Thị M trong vụ án khác nếu có yêu cầu.
- Về án phí: Anh Nguyễn Công T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0014990 ngày 13/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, xác định anh Nguyễn Công T đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: anh Nguyễn Công T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Chị Nguyễn Thị M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hằng |
Bản án số 849/2024/HNGĐ-ST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 849/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyển-Mai
