|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 849/2024/DS-PT
Ngày: 25-9-2024
Về việc “Tranh chấp: Thừa kế; Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất; Chia tài sản sau ly hôn và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSDĐ”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khương
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ
Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 494/2024/TLPT-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp: Thừa kế; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; Chia tài sản sau ly hôn và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSDĐ”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 09/2024/DS-ST ngày 04-5-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp bị bà Trương Mai H và ông Tô Văn T là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kháng cáo và bị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp kháng nghị.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2631/2024/QĐ-PT ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lưu Ngọc Đ - sinh năm 1962
Địa chỉ: số H, T, W, C, Hoa Kỳ (vắng mặt).
Đại diện theo ủy quyền của ông Lưu Ngọc Đ: bà Võ Thị Băng G, sinh năm 1957, địa chỉ: số B, khóm M, thị trấn M, huyện C, Đồng Tháp (Theo văn bản ủy quyền ngày 18/10/2010) (có mặt).
- Bị đơn: Bà Lưu Thị Mỹ T1, sinh năm 1969;
Địa chỉ: số B, đường T, khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hoàng Thị Lệ T2, sinh năm 1962; Địa chỉ: số C, đường N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Ông Lê Văn Bé N - sinh năm 1968; Địa chỉ: ấp H, xã L, huyện L - Đồng Tháp (vắng mặt).
- Bà Trương Mai H, sinh năm 1952; Địa chỉ: Số nhà A đường L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Ông Tô Văn T, sinh năm 1947;
- Phòng Công chứng số 2 tỉnh Đ; Địa chỉ: số D, Nguyễn Sinh S, Khóm E, Phường A, Thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
- Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; Địa chỉ: E đường N, Phường A, TP . - Đồng Tháp.
Đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn Bé N: ông Nguyễn Hoàng G1, sinh năm 1968, địa chỉ: số D, đường N, Tổ I, khóm A, Phường A, thành phố C, Đồng Tháp (Theo văn bản ủy quyền ngày 03/3/2014) (vắng mặt).
Đại diện theo ủy quyền của bà H: Ông Cao Minh T3 - sinh năm 1970; Địa chỉ: Số B, khóm S, phường T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
Địa chỉ: số A Lô H, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
Đại diện theo ủy quyền của ông T: Bà Tô Kim A - sinh năm 1988; Địa chỉ: A đường L, Phường C, Quận A, TP H (có mặt).
Đại diện theo pháp luật của Phòng Công chứng: ông Nguyễn Văn P – Chức vụ: Trưởng phòng (vắng mặt).
Đại diện theo ủy quyền của Phòng Công chứng: ông Đỗ Công K – Công chứng viên (vắng mặt).
Người đại diện theo pháp luật của UBND tp. S: ông Nguyễn Văn H1 – chức vụ: Chủ tịch (vắng mặt).
Đại diện theo ủy quyền UBND tp. S: ông Bùi Thanh S1 – Chức vụ: Phó Chủ tịch (vắng mặt).
Người có kháng cáo: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Mai H; ông Tô Văn T kháng cáo.
Người có kháng nghị: Viện Trưởng viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Lưu Ngọc Đ trình bày:
Cha mẹ của ông Đ là cụ Lưu Ngọc K1 và cụ Nguyễn Phụng H2 có 03 người con: Lưu Ngọc N1 (di cư sang Hoa Kỳ vào năm 1982, chết ngày 04/3/2011, không có vợ con), Lưu Ngọc Đ (di cư sang Hoa Kỳ vào năm 1987) và Lưu Thị Mỹ T1. Quá trình chung sống, cụ K1 và cụ H2 có các tài sản sau:
- + 01 căn nhà 4 tầng nằm trên diện tích đất 80m2 tại thửa 07, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại số B (số cũ là B), đường T, khóm A, phường A, thị xã S (nay là thành phố S), tỉnh Đồng Tháp.
- + 01 căn nhà cấp 4 nằm trên diện tích đất 49m2 tại thửa 157, tờ bản đồ số 41, tọa lạc tại khóm D, phường A, thị xã S (nay là thành phố S), tỉnh Đồng Tháp.
- + 01 căn nhà cấp 4 nằm trên diện tích đất 53,5m2, thửa 96, tờ bản đồ số 41, tọa lạc tại khóm D, phường A, thị xã S (nay là thành phố S), tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 04/4/1996, cụ K1 chết để lại tài sản cho cụ H2 quản lý, sử dụng.
Ngày 11/8/2000, cụ H2 lập tờ Di chúc có nội dung: cụ H2 để lại tài sản của cụ là căn nhà số B đường T và một phần thừa kế được hưởng từ cụ K1 đối với căn nhà số B đường T cho ba người con là Lưu Ngọc Đ, Lưu Ngọc N1 và Lưu Thị Mỹ T1 được hưởng thừa kế.
Ngày 09/02/2006, cụ H2 chết. Năm 2007, con gái là bà Lưu Thị Mỹ T1 tự ý kê khai để hưởng di sản toàn bộ tài sản trên cho bà đứng tên. Sau đó đem chuyển nhượng cho bà Hoàng Thị Lệ T2 với giá 4.000.000.000 đồng, trong đó căn nhà 4 tầng (số B T) chuyển nhượng giá 2.200.000.000 đồng và 02 căn nhà cấp 4 chuyển nhượng với giá 1.800.000.000 đồng. Thủ tục chuyển nhượng đã hoàn thành. Bà Lệ T2 đã đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu 03 căn nhà trên. Sau đó, 02 căn nhà cấp 4 bà Lệ T2 đã chuyển nhượng cho người khác (lâu rồi nên không còn nhớ rõ họ tên) (nhưng nguyên đơn chỉ yêu cầu bà Lệ T2 phải trả bằng tiền). Riêng căn nhà cấp 3 (04 tầng) tại số B đường T thì bà Lệ T2 chuyển nhượng cho vợ chồng bà Trương Mai H, ông Tô Văn T trong thời gian tranh chấp (nguyên đơn yêu cầu trả lại bằng hiện vật).
Tại đơn khởi kiện, ông Đ yêu cầu chia thừa kế theo di chúc đối với phần đất và căn nhà tại số B đường T và chia thừa kế theo pháp luật đối với 02 phần đất và căn nhà còn lại.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà G1 đại diện hợp pháp của ông Đ yêu cầu cho ông Đ được nhận hiện vật đối với toàn bộ căn nhà và đất tại số B đường T, trong đó kỷ phần của ông Đ đối với cả 03 căn nhà và đất là 1.333.333.000đ, phần còn lại là một phần kỷ phần của ông N1 được hưởng là 866.667.000 đồng ông Đ yêu cầu được quản lý (tổng cộng là bằng giá trị nhà và đất 2.200.000.000₫); một phần kỷ phần còn lại ông N1 được hưởng là 466.667.000₫ ông đồng ý giao cho bà Mỹ Thanh quản 1. Khi nào có đủ chứng cứ ông Đ sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
Việc bà Lệ T2 chuyển nhượng nhà và đất số tại B đường T cho vợ chồng bà H, ông T trong thời gian tranh chấp là trái pháp luật, là không hợp pháp, nên yêu cầu hủy bỏ (vô hiệu) việc chuyển nhượng, đồng thời buộc phía bà Lệ T2, bà H và ông T phải có nghĩa vụ giao lại nhà, đất này cho ông Đ; yêu cầu hủy các Giấy chứng nhận QSDĐ và QSHNO đối với căn nhà số B đường T đã cấp cho bà Mỹ T1, bà Lệ T2 và vợ chồng bà H, ông T.
Tại phiên tòa, bà G1 yêu cầu Tòa án xác định giá trị căn nhà và đất tại số B đường T theo giá thị trường mà Hội đồng định giá đã định là 5.499.480.000đ (giá đất là 4.900.789.000đ; giá nhà là 598.691.000đ); đối với 02 căn nhà còn lại đồng ý theo giá 1.800.000.000 đồng.
- Bị đơn bà Lưu Thị Mỹ T1 trình bày:
Bà thống nhất lời trình bày của ông Đ cũng như đại diện hợp pháp của ông Đ về nguồn gốc tài sản tranh chấp, là 03 căn nhà, đất nêu trên, là tài sản của cha mẹ là cụ K1 và cụ H2 để lại, đồng thời thống nhất di chúc của cụ H2 như nguyên đơn trình bày là đúng. Năm 2010 bà chuyển nhượng cho bà Lệ T2 03 căn nhà nêu trên giá tổng
cộng là 4.000.000.000đ, trong đó 02 căn nhà cấp 4 giá là 1.800.000.000đ, căn nhà số B đường T giá là 2.200.000.000đ; thủ tục chuyển nhượng 03 căn nhà đều đã được thực hiện xong, bà Lệ T2 đã đứng tên quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở trên đất; bà cũng đã nhận đủ tiền chuyển nhượng từ bà Lệ T2. Nên nay bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông Đ, đồng thời bà cũng không có tranh chấp gì với bà Lệ T2, do việc chuyển nhượng giữa bà với bà Lệ T2 đã hoàn thành.
Đối với việc bà Lệ T2 nay đã chuyển nhượng nhà, đất số B đường T cho vợ chồng bà Trương Mai H và ông Tô Văn T thì bà không có ý kiến gì vì bà Lệ T2 có toàn quyền chuyển nhượng nhà, đất này.
Bà cũng thống nhất giải quyết vụ án theo giá đã định đối với căn nhà số B đường T, là 5.499.480.000 đồng.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị Lệ T2 trình bày:
Năm 2010, bà có nhận chuyển nhượng phần đất và căn nhà tại số B tọa lạc tại đường T, Khóm A, Phường A, thị xã S (nay là thành phố S), tỉnh Đồng Tháp và 02 căn nhà cấp 4 của bà Lưu Thị Mỹ T1 như nguyên, bị đơn trình bày trên là đúng. Giá chuyển nhượng căn nhà tại số B là 2.200.000.000đ, 02 căn nhà cấp 4 là 1.800.000.000đ; bà đã giao đủ cho bà Mỹ T1 và nhận nhà, đất sử dụng. Cả 03 căn nhà này bà đều đã bán cho người khác, trong đó căn nhà tại số B đường T thì bà bán cho vợ chồng bà H, ông T vào năm 2016 giá 1.700.000.000đ (giá hợp đồng chỉ ghi là 1.000.000.000₫); hiện nay vợ chồng bà H, ông T cũng đã đứng tên quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở. Nay bà yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa bà với bà Mỹ T1 và hợp đồng chuyển nhượng giữa bà với vợ chồng bà H, ông T4, vì tất cả các hợp đồng đều đã hoàn thành và giữa các bên không có tranh chấp gì.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Ngọc Đ thì bà không đồng ý.
Bà cũng yêu cầu giải quyết vụ án theo giá đã định đối với căn nhà số B đường T, là 5.499.480.000đ và trong trường hợp Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng đối với căn nhà này thì bà yêu cầu phía bà Mỹ T1 phải bồi thường thiệt hại cho bà theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Mai H trình bày:
Ngày 19/6/2016, bà H nhận chuyển nhượng của bà Lệ T2 căn nhà số B tọa lạc tại đường T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp với giá 1.700.000.000₫ (giá hợp đồng chỉ ghi là 1.000.000.000đ). Hợp đồng được công chứng tại Phòng C, thành phố S và được cấp giấy chứng nhận QSDĐ ngày 29/01/2017. Việc chuyển nhượng đúng quy định pháp luật.
Tuy nhiên, việc ông T là chồng bà có ký tên trên Hợp đồng chuyển nhượng chỉ là hình thức mà thực tế đây là số tiền riêng của bà (căn nhà này là tài sản riêng của bà). Hiện nay, bà và ông T đã ly hôn xong. Căn nhà này do một mình bà trực tiếp quản lý sử dụng, nhưng do bà ở thành phố Hồ Chí Minh nên ông T đã tự ý lén lút mang một số đồ đạc cá nhân để trong căn nhà tạo chứng cứ chứng minh ông đang quản lý và ở tại căn nhà này chứ thực tế ông không có ở đây.
Nên bà H yêu cầu được công nhận hợp đồng chuyển nhượng với bà Lệ T2; yêu cầu xác định đây là tài sản riêng của bà và yêu cầu buộc ông T phải mang tất cả đồ đạc ra khỏi nhà để giao trả căn nhà và đất cho bà quản lý, sử dụng.
Bà cũng yêu cầu giải quyết vụ án theo giá đã định đối với căn nhà số B đường T, là 5.499.480.000đ và trong trường hợp Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng đối với căn nhà này thì bà yêu cầu phía bà Lệ T2 phải bồi thường thiệt hại cho bà theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Tô Văn T trình bày:
Ông thống nhất với lời trình bày của bà H về thời điểm chuyển nhượng cũng như số tiền chuyển nhượng, thủ tục chuyển nhượng, nhưng ông xác định đây là tài sản chung của ông và bà H chứ không phải tài sản riêng của bà H như bà H trình bày.
Nên ông yêu cầu được công nhận Hợp đồng chuyển nhượng với bà Lệ T2; yêu cầu được tiếp tục quản lý sử dụng căn nhà số B đường T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, đồng thời yêu cầu xác định đây là tài sản chung của ông và bà H.
Do hiện nay ông và bà H đã ly hôn xong, nên ông yêu cầu chia đôi tài sản là căn nhà, đất này. Ông yêu cầu được nhận nhà, đất. Trường hợp bà H muốn nhận nhà, đất thì phải chia ½ giá trị nhà, đất cho ông.
Ông cũng yêu cầu giải quyết vụ án theo giá đã định đối với căn nhà số B đường T, là 5.499.480.000đ và trong trường hợp Tòa án hủy Hợp đồng chuyển nhượng đối với căn nhà này thì ông yêu cầu phía bà Lệ T2 phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đại diện Phòng C tỉnh Đồng Tháp trình bày:
Ngày 11/8/2000, Công chứng viên Lê Phước L thuộc Phòng C tỉnh Đồng Tháp, có công chứng Di chúc của bà Nguyễn Phụng H2 để lại di sản cho 03 người con: Lưu Ngọc N1, Lưu Ngọc Đ (di cư sang Hoa Kỳ vào năm 1987) và Lưu Thị Mỹ T1.
Ngày 20/7/2007, Công chứng viên Đỗ Công K thuộc Phòng C tỉnh Đồng Tháp, công chứng văn bản khai nhận di sản của bà Mỹ T1 nhận di sản của cha mẹ bà là bà Nguyễn Phụng H2 và ông Lưu Ngọc K1 chết để lại. Sau khi khai nhận di sản, bà Mỹ T1 được cấp giấy chứng nhận QSDĐ và sở hữu nhà ở.
Ngày 10/8/2010, công chứng viên Đỗ Công K công chứng hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất giữa bà Mỹ T1 và Lệ T2 ( gồm 01 căn nhà và 03 thửa đất).
Ngày 19/01/2016, bà Lệ T2 chuyển nhượng lại 01 căn nhà và 01 thửa đất cho ông T và bà H được công chứng viên Nguyễn Ngọc N2 thuộc Phòng C tỉnh Đồng Tháp chứng nhận hợp đồng.
Như vậy, công chứng di chúc của bà P1 (mẹ bà Mỹ T1) là do công chứng viên Lê Phước L chứng nhận; công chứng hợp đồng chuyển nhượng giữa bà Mỹ T1 và Lệ T2 do công chứng Đỗ Văn K2 chứng nhận chứ không phải cùng 01 công chứng viên thực hiện như nội dung Thông báo số 374/TB-TA ngày 03/10/2019 của TAND tỉnh Đồng Tháp. Trình tự thủ tục công chứng Văn bản đúng quy định pháp luật.
Tại thời điểm ngày 20/7/2007 công chứng Văn bản khai nhận di sản của bà Mỹ T1, nhận di sản của cha mẹ bà là bà Nguyễn Phụng H2 và ông Lưu Ngọc K1 chết để lại thì công chứng viên Đỗ Công K không thể biết được ngày 11/08/2000 công
chứng viên Lê Phước L đã công chứng di chúc của bà Nguyễn Phụng H2 để lại di sản cho 03 người con.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Theo văn bản ý kiến, UBND thành phố S trình bày:
Năm 1993, bà Nguyễn Phụng H2 đăng ký kê khai xin cấp quyền sử dụng ruộng đất gồm: diện tích 80m2 thuộc thửa 1215 tờ bản đồ số 2 nguồn gốc sang nhượng của ông Nguyễn Văn H3 trước năm 1975 và 55m2 thuộc thửa 2307 nguồn gốc sang nhượng của ông Lưu T5 năm 1989. Qua thẩm tra, xác minh cho thấy hồ sơ xin cấp bà Nguyễn Phụng H2 đảm bảo đủ điều kiện theo quy định pháp luật nên UBND thị xã S cấp Giấy chứng nhận QSDĐ số B429512 ngày 04/8/1993 cho bà Nguyễn Phụng H2 được QSDĐ diện tích 135m2 gồm thửa 1215 tờ bản đồ số 02 diện tích 80m2 và thửa 2307 tờ bản đồ số 02 diện tích 55m2. Quá trình bà H2 quản lý, sử dụng diện tích đất 135m2 không phát sinh tranh chấp, khiếu nại.
Năm 2000, bà Nguyễn Phụng H2 được thừa kế phần đất của cha là ông Nguyễn Kế T6 chết để lại theo Quyết định số 19/QĐUB-ND ngày 16/01/2001 của UBND thị xã S diện tích 48.95m2 thuộc thửa 3836, tờ bản đồ số 02. UBND thị xã S đã cấp Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở ngày 12/9/2001 cho bà Nguyễn Phụng H2 đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.
Về thủ tục xét duyệt hồ sơ thừa kế quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở và cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với bà Lưu Thị Mỹ T1: Ngày 20/7/2007 bà Lưu Thị Mỹ T1 đăng ký hồ sơ thừa kế quyền sở hữu nhà ở và QSDĐ đất ở của bà Nguyễn Phụng H2. Bà Mỹ T1 đã lập văn bản khai nhận di sản thừa kế thể hiện bà Nguyễn Phụng H2 chết ngày 09/02/2006 không để lại di chúc và bà T1 là người thừa kế duy nhất di sản của bà H2.
Quá trình thẩm tra, xác minh thì không có tranh chấp, khiếu nại và không có bất cứ thông tin nào khác xác định hàng thừa kế di sản của bà H2 có thêm người thừa kế nào khác ngoài bà T1. Do đó, UBND thị xã S đã thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận QSDĐ ngày 05/9/2007 diện tích 80m2, tờ bản đồ số 34; Giấy chứng nhận QSDĐ ngày 04/9/2007 diện tích 49m2 thửa 157, tờ bản đồ số 41 và Giấy chứng nhận QSDĐ ngày 05/9/2007 diện tích 53,5m2, thửa 96, tờ bản đồ số 41, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho cá nhân bà Lưu Thị Mỹ T1 đúng theo quy định chung.
Về trình tự thủ tục chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất giữa bà Lưu Thị Mỹ T1 với bà Hoàng Thị Lệ T2:
Ngày 10/8/2010, bà Lưu Thị Mỹ T1 (bên chuyển nhượng) với bà Hoàng Thị Lệ T2 (bên nhận chuyển nhượng) có lập hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất được Phòng C tỉnh Đồng Tháp công chứng cùng ngày (Số I, Q, TP/CHỊ-SCC/HĐGD).
Quá trình thẩm tra, xác minh cho thấy hồ sơ đủ điều kiện chuyển nhượng, không có tranh chấp khiếu nại việc chuyển nhượng nên đến ngày 07/9/2010 bà Hoàng Thị Lệ T2 đã được UBND thị xã S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 995281 số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 00383.
Quá trình thực hiện xét duyệt hồ sơ thừa kế và hồ sơ chuyển nhượng nêu trên không có thông tin thể hiện ông Lưu Ngọc Đ, sinh năm 1962, địa chỉ 8981, THORPE-AVE, WESTMINSTER, CA 92683 là người Việt Nam định cư ở nước ngoài là người thuộc hàng thừa kế di sản của bà Nguyện Phụng H4.
Như vậy, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà Lưu Thị Mỹ T1 với bà Hoàng Thị Lệ T2 là đúng quy định pháp luật. Do đó, theo yêu cầu của ông Lưu Ngọc Đ và bà Lưu Thị Mỹ T1 về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà đối với căn nhà số B T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp cấp cho bà Hoàng Thị Lệ Thanh 11 không có cơ sở.
* Kết quả xét xử lần thứ nhất:
Tại Bản án án dân sự sơ thẩm số: 04/2014/DS-ST ngày 07/4/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, đã tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Đ, buộc bà Mỹ T1 phải chia thừa kế cho ông Đ bằng giá trị di sản là 1.333.333.300đ; bà Mỹ T1 được sở hữu giá trị di sản là 1.333.333.300đ (đang quản lý) và tạm giao quản lý phần hưởng thừa kế của ông N1 1.333.333.300đ; công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa Mỹ Thanh với Lệ T2 đối với căn nhà 4 tầng (số B T); bà Lệ T2 phải thanh toán tiếp cho bà Mỹ T1 số tiền chuyển nhượng còn lại là 503.400.000đ; bà Mỹ T1 phải giao căn nhà số B đường T cho bà Lệ T2.
Không đồng ý bà Lưu Thị Mỹ T1 và ông Lưu Ngọc Đ đã kháng cáo bản án sơ thẩm.
Bản án án dân sự phúc thẩm số: 344/2018/DS-PT ngày 19/11/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh, đã tuyên xử: Hủy bản án sơ thẩm nói trên (nhận định) do: Thiếu tư cách tham gia tố tụng khi không đưa Văn phòng C1 vào tham gia tố tụng; Công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa bà Mỹ T1 với bà Lệ T2 là trái với ý chí của bà Lệ T2 và bà Mỹ T1;
* Kết quả xét xử lần thứ hai:
Tại Bản án án dân sự sơ thẩm số: 09/2024/DS-ST ngày 04/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, đã tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Ngọc Đ về việc yêu cầu chia thừa kế đối với bà Lưu Thị Mỹ T1.
- + Ông Lưu Ngọc Đ, ông Lưu Ngọc N1 và bà Lưu Thị Mỹ T1 có quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở chung đối với căn nhà và đất tại số B đường T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; thuộc thửa số 07, tờ bản đồ số 34, diện tích đất đo đạc thực tế là 85,2m2, hiện do bà Mai Thị H5 và ông Tô Văn T đứng tên quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Giao cho bà Lưu Thị Mỹ T1 đại diện ông Lưu Ngọc Đ, ông Lưu Ngọc N1 đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với phần đất và căn nhà tại số B đường T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; thuộc thửa số 07, tờ bản đồ số 34.
- + Buộc bà Lưu Thị Mỹ T1 phải có nghĩa vụ chia thừa kế cho ông Lưu Ngọc Đ bằng giá trị với số tiền là 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng) đối với di sản là phần đất và căn nhà cấp 4 nằm trên diện tích đất thuộc thửa 157, tờ bản đồ số 41, tọa lạc tại khóm D, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp và phần đất, căn nhà cấp 4 nằm trên diện tích đất thuộc thửa 96, tờ bản đồ số 41, tọa lạc tại khóm D, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
- + Bà Lưu Thị Mỹ T1 được hưởng thừa kế bằng giá trị là 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng) đối với di sản là phần đất và căn nhà cấp 4 nằm trên diện tích đất thuộc thửa 157, tờ bản đồ số 41, tọa lạc tại khóm D, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp và phần đất, căn nhà cấp 4 nằm trên diện tích đất thuộc thửa 96, tờ bản đồ số 41, tọa lạc tại khóm D, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (bà Lưu Thị Mỹ T1 đang quản lý).
- + Tạm giao cho bà Lưu Thị Mỹ T1 được quản lý phần kỷ phần thừa kế bằng giá trị mà ông Lưu Ngọc N1 được hưởng là 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng) đối với di sản là phần đất và căn nhà cấp 4 nằm trên diện tích đất thuộc thửa 157, tờ bản đồ số 41, tọa lạc tại khóm D, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp và phần đất, căn nhà cấp 4 nằm trên diện tích đất thuộc thửa 96, tờ bản đồ số 41, tọa lạc tại khóm D, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (bà Lưu Thị Mỹ T1 đang quản lý).
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số AK 221844, số vào sổ H-00933 do UBND thị xã S (nay là thành phố S), tỉnh Đồng Tháp đã cấp cho bà Lưu Thị Mỹ T1 ngày 05/9/2007 và hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 878672990500288 do UBND thị xã S (nay là thành phố S), tỉnh Đồng Tháp đã cấp cho bà Lưu Thị Mỹ T1 ngày 23/01/2008.
- Đình chỉ giải quyết và trả lại đơn yêu cầu đối với yêu cầu của ông Lê Văn Bé N về việc yêu cầu cho ông được nhận, kê khai đứng tên và quản lý căn nhà và đất tại số B T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, thuộc thửa số 07, tờ bản đồ số 34 cho ông Lưu Ngọc Đ.
- Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Hoàng Thị Lệ T2 về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
- + Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 10/8/2010 giữa bà Lưu Thị Mỹ T1 với bà Hoàng Thị Lệ T2 đối với phần đất và căn nhà cấp 4 nằm trên diện tích đất thuộc thửa 157, tờ bản đồ số 41, tọa lạc tại khóm D, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp và phần đất, căn nhà cấp 4 nằm trên diện tích đất thuộc thửa 96, tờ bản đồ số 41, tọa lạc tại khóm D, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (đã thực hiện xong).
- + Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 10/8/2010 giữa bà Hoàng Thị Lệ T2 với bà Lưu Thị Mỹ T1 đối với phần đất và căn nhà tại số B đường T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, thuộc thửa số 07, tờ bản đồ số 34 là giao dịch dân sự vô hiệu.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số bìa BB 995281, số vào sổ CH00383 do Ủy ban nhân dân thị xã S (nay là thành phố S) cấp ngày 07/9/2010 cho bà Hoàng Thị Lệ T2, thuộc thửa số 7, tờ bản đồ số 34, tại số B đường T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
- + Buộc bà Lưu Thị Mỹ T1 phải trả lại cho bà Hoàng Thị Lệ T2 2.200.000.000 đồng tiền chuyển nhượng và 1.649.740.000 đồng thiệt hại. Tổng cộng là 3.849.740.000 đồng (Ba tỷ, tám trăm bốn mươi chín triệu, bảy trăm bốn mươi nghìn đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Trương Mai H, ông Tô Văn T về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng căn nhà, đất số B đường T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, thuộc thửa số 07, tờ bản đồ số 34 giữa bà Trương Mai H, ông Tô Văn T với bà Hoàng Thị Lệ T2.
- + Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 19/01/2016 giữa bà Hoàng Thị Lệ T2với ông Tô Văn T, bà Trương Mai Hđối với phần đất và căn nhà số B đường T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, thuộc thửa số 07, tờ bản đồ số 34 là giao dịch dân sự vô hiệu.
- + Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với phần đất và căn nhà thuộc thửa số 7, tờ bản đồ số 34, tại số B đường T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp đã cấp cho ông Tô Văn T và bà Trương Mai H ngày 27/01/2016 với hình thức Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố S bổ sung trang 1 từ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số bìa BB 995281, số vào sổ CH00383 do Ủy ban nhân dân thị xã S (nay là thành phố S) cấp cho bà Hoàng Thị Lệ T2 ngày 07/9/2010.
- + Buộc bà Hoàng Thị Lệ T2 phải trả cho bà Trương Mai H và ông Tô Văn T (tiền chuyển nhượng và thiệt hại) mỗi người là 1.799.870.000 đồng (Một tỷ, bảy trăm chín mươi chín triệu, tám trăm bảy mươi nghìn đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Trương Mai H về việc yêu cầu xác định căn nhà và phần đất tại số B đường T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, thuộc thửa số 7, tờ bản đồ số 34 là tài sản riêng của bà Trương Mai H.
- Buộc bà Trương Mai H, ông Tô Văn T và bà Hoàng Thị Lệ T2 phải có nghĩa vụ liên đới trả lại căn nhà và đất tại số B đường T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, thuộc thửa số 07, tờ bản đồ số 34 cho ông Lưu Ngọc Đ, ông Trương Ngọc N3 và bà Lưu Thị Mỹ T1 (trong phạm vi các mốc M1-M2-M3-M4 theo sơ đồ đo đạc ngày 05/12/2023 của Trung tâm K4).
- Đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố S thu hồi các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với phần đất và căn nhà tại số B đường T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, thuộc thửa số 07, tờ bản đồ số 34 đã cấp cho bà Trương Mai H, ông Tô Văn T; bà Hoàng Thị Lệ T2; bà Lưu Thị Mỹ T1 để cấp lại cho bà Lưu Thị Mỹ T1, ông Lưu Ngọc Đ, ông Lưu Ngọc N1 (do bà Lưu Thị Mỹ T1 đại diện).
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, mà bên phải thi hành án chưa thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu trả tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại các Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Lưu Ngọc Đ phải chịu 98.994.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 36.000.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 000326 ngày 25/7/2011 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp. Ông Lưu Ngọc Đ còn phải nộp tiếp 62.994.000 đồng.
- - Bà Lưu Thị Mỹ T1 phải chịu 98.994.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Bà Hoàng Thị Lệ T2 được miễn án phí sơ thẩm (do là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí) nên được nhận lại 26.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 002293 ngày 28/02/2011 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sa Đéc (nay là thành phố S).
- - Bà Trương Mai H được miễn án phí sơ thẩm (do là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí).
- - Ông Tô Văn T phải chịu 65.996.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Lưu Thị Mỹ T1 được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký đại diện đứng tên cấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản và quyền kháng cáo.
- + Ngày 05/5/2024, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Mai H kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Công nhận hợp đồng chuyển nhượng đối với căn nhà số B đường T giữa bà H, ông T với bà Lệ T2; Xác định căn nhà số B đường T là tài sản riêng của bà; yêu cầu buộc ông T phải mang tất cả đồ đạc ra khỏi nhà để giao trả căn nhà và đất cho bà quản lý, sử dụng. Trường hợp Tòa án huỷ Hợp đồng chuyển nhượng đối với căn nhà số B đường T, bà đề nghị bên bà Lệ T2 phải bồi thường thiệt hại riêng cho bà 100% theo kết quả định giá là 5.499.480.000 đồng (bà H không đồng ý tính lỗi cho vợ chồng bà ½).
- + Ngày 09/5/2024, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Tô Văn T kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng đối với căn nhà số B đường T giữa bà Lệ T2 với ông T, bà H. Trường hợp Tòa án huỷ Hợp đồng chuyển nhượng đối với căn nhà số B đường T, ông đề nghị bên bà Lệ T2 phải bồi thường thiệt hại cho vợ chồng ông 100% thiệt hại theo kết quả định giá là 5.499.480.000 đồng (ông T không đồng ý tính lỗi cho vợ chồng ông ½). Và miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông.
- + Ngày 17/5/2024, Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 62/QĐ-VKS-DS kháng nghị đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chia căn nhà số B T bằng giá trị cho các đồng thừa kế của cụ Lưu Ngọc K3 và cụ Nguyễn Phụng H2;
Không chấp nhận yêu cầu của ông Lưu Ngọc Đ về việc yêu cầu Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày
19/01/2016 giữa bà Hoàng Thị Lệ T2với bà Trương Mai H, ông Tô Văn Tđối với phần đất và căn nhà tại số B T.
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 19/01/2016 giữa bà Hoàng Thị Lệ T2 với bà Trương Mai H, ông Tô Văn Tđối với phần đất và căn nhà tại số B T.
Không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở số B T do bà Trương Mai H, ông Tô Văn T đứng tên; Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 10/8/2010 giữa bà Lưu Thị Mỹ T1 với bà Hoàng Thị Lệ T2.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của ông Tô Văn T rút yêu cầu độc lập về xác định căn nhà và phần đất tại số B đường T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, thuộc thửa số 7, tờ bản đồ số 34 là tài sản chung của vợ chồng mỗi người ½.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trương Mai H rút yêu cầu độc lập xác định căn nhà và phần đất tại số B đường T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, thuộc thửa số 7, tờ bản đồ số 34 là tài sản riêng của bà Trương Mai H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh rút toàn bộ yêu cầu kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
Đối với tranh chấp tài sản chung của vợ chồng là căn nhà số B đường T, người đại diện theo uỷ quyền của ông T và người đại diện theo uỷ quyền của bà H đã rút yêu cầu độc lập về tranh chấp tài sản chung này. Việc rút của các đương sự là tự nguyện, được người đại diện theo ủy quyền của bà H và người đại diện theo ủy quyền của ông T đều đồng ý nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận hủy bản án sơ thẩm đối với yêu cầu độc lập đã rút nêu trên; Không chấp nhận kháng cáo của ông T, bà H đối với các yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng đối với căn nhà số B đường T giữa bà H, ông T với bà Lệ T2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh rút toàn bộ yêu cầu kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là có căn cứ nên đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị đã rút.
[2]. Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của ông Tô Văn T rút yêu cầu độc lập về yêu cầu độc lập xác định căn nhà và phần đất tại số B đường T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, thuộc thửa số 7, tờ bản đồ số 34 là tài sản chung của vợ chồng mỗi người ½; Người đại diện theo ủy quyền của bà Trương Mai H rút yêu cầu độc lập xác định căn nhà và phần đất tại số B đường T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, thuộc thửa số 7, tờ bản đồ số 34 là tài sản riêng của bà Trương Mai H là tự nguyện được người đại diện theo ủy quyền của bà
H và ông T4 đồng ý nên được Hội đồng xét xử chấp nhận để hủy bản án sơ thẩm đối với yêu cầu độc lập đương sự đã rút nêu trên.
* Về nội dung kháng cáo kháng nghị:
[3]. Xét về quan hệ huyết thống và nguồn gốc tài sản, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm đều thừa nhận:
Cha mẹ của nguyên đơn là cụ Lưu Ngọc K1 và cụ Nguyễn Phụng H2 có 03 người con: ông Lưu Ngọc N1 (di cư sang Hoa Kỳ vào năm 1982, chết ngày 04/3/2011, không có vợ con), ông Lưu Ngọc Đ (di cư sang Hoa Kỳ vào năm 1987) và bà Lưu Thị Mỹ T1.
Quá trình chung sống, cụ K1 và cụ H2 có các tài sản sau:
- + 01 căn nhà 4 tầng nằm trên diện tích đất 80m2 tại thửa 07, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại số B (số cũ là B), đường T, khóm A, phường A, thị xã S {(nay là thành phố S), tỉnh Đồng Tháp (đã được cấp GCNQSDĐ) (sau đây viết tắt là căn nhà số B đường T)}.
- + 01 căn nhà cấp 4 nằm trên diện tích đất 49m2 tại thửa 157, tờ bản đồ số 41, tọa lạc tại khóm D, phường A, thị xã S (nay là thành phố S), tỉnh Đồng Tháp (đã được cấp GCNQSDĐ) (Căn nhà này không có kháng cáo, kháng nghị).
- + 01 căn nhà cấp 4 nằm trên diện tích đất 53,5m2, thửa 96, tờ bản đồ số 41, tọa lạc tại khóm D, phường A, thị xã S (nay là thành phố S), tỉnh Đồng Tháp (đã được cấp GCNQSDĐ) (Căn nhà này không có kháng cáo, kháng nghị).
Ngày 04/4/1996, cụ K1 chết không để lại di chúc. Toàn bộ tài sản nêu trên do cụ H2 quản lý, sử dụng.
Ngày 11/8/2000, cụ H2 lập tờ Di chúc được Phòng C tỉnh Đồng Tháp công chứng, cụ H2 để lại ½ trong khối tài sản chung nêu trên (trong đó có căn nhà số B đường T) cho 03 người con: ông Lưu Ngọc Đ, ông Lưu Ngọc N1 và bà Lưu Thị Mỹ T1 được hưởng thừa kế.
[4]. Căn cứ vào Điều 92 của Bộ luật Dân sự, các tình tiết sự kiện nêu trên các đương sự không phải chứng minh.
* Xét kháng cáo của bà Trương Mai H và ông Tô Văn T liên quan đến Hợp đồng chuyển nhượng ngày 19/01/2016, giữa bà Hoàng Thị Lệ T2 với ông Tô Văn T và bà Trương Mai H đối với căn số 222 và giải quyết hậu quả của Hợp đồng vô hiệu, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[5]. Tại bản Di chúc do cụ H2 lập ngày 11/8/2000 (Bút lục 71), có nội dung: “Nguyên vợ chồng chúng tôi là Lưu Ngọc K3 và Nguyễn Phụng H2 có đứng tên quyền sở hữu căn nhà số B T, khóm A, phường A, thị xã S, tỉnh Đồng Tháp (Theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 126/CN.UB do UBND thị xã S, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 27/10/1995) và quyền sử dụng: 135m² đất theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số B429512 do UBND thị xã S, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 04/8/1993. Nhưng nay ông Lưu Ngọc K1 đã qua đời (Theo giấy chứng tử số 18/96 do UBND phường A1, thị xã S chứng nhận ngày 04/4/1996) không có lập di chúc nên tôi là người đương nhiên được hưởng phân nửa (1/2) khối tài sản chung của vợ chồng và được
hưởng thừa kế một phần trong phân nửa (1/2) số tài sản trên mà chồng tôi qua đời để lại.
Nay trong lúc tôi còn minh mẫn, sáng suốt, nên tự nguyện lập tờ di chúc này để lại phần tài sản mà tôi được hưởng như đã nói trên cho các con tôi có tên sau đây được hưởng thừa kế khi tôi qua đời:
LƯU NGỌC NGHĨA, sinh ngày: 22/02/1958; LƯU NGỌC ĐỨC, sinh ngày: 15/01/1962; LƯU THỊ MỸ THANH, sinh ngày: 01/04/1969.
Sau khi được hưởng tài sản thừa kế, NGHĨA, ĐỨC và THANH có nghĩa vụ cải tạo, tu bổ, không được thế chấp, cầm cố bằng bất kỳ hình thức nào; khi bán tài sản thừa kế phải có sự đồng ý của những người đồng thừa kế”.
[6]. Xét về hình thức và nội dung của Di chúc này là hợp pháp. Nên ngày 20/7/2007 bà Lưu Thị Mỹ T1 che giấu Di chúc nêu trên đến Phòng C tỉnh Đồng Tháp lập Văn bản khai nhận di sản của của cha mẹ (C, cụ K1) để lại trong đó có căn nhà số B đường T cho một mình bà Lưu Thị Mỹ T1 hưởng trọn căn nhà 222 nêu trên là trái pháp luật.
[7]. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở căn nhà số B đường T, ngày 10/8/2010 bà Lưu Thị Mỹ T1 đã ký Hợp đồng chuyển nhượng căn nhà số B đường T nêu trên cho Hoàng Thị Lệ T2 là trái với Di chúc của cụ H2 trái với quy định của pháp luật nên bị vô hiệu.
[8]. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở căn nhà số B đường T, ngày 19/01/2016 bà Hoàng Thị Lệ T2 đã ký Hợp đồng chuyển nhượng căn nhà số B, đường T nêu trên cho vợ chồng ông Tô Văn T và bà Trương Mai H. Xét, Hợp đồng chuyển nhượng căn nhà số B đường T giữa bà Hoàng Thị Lệ T2 với vợ chồng ông Tô Văn T và bà Trương Mai H được ký kết chuyển nhượng và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở là trong thời gian Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đang thụ lý, giải quyết vụ án tranh chấp đối với căn nhà số B đường T là vi phạm điều cấm nên bị vô hiệu. Do đó, ông Tô Văn T và bà Trương Mai H nhận chuyển nhượng căn nhà số B đường T không phải ngay tình.
[9]. Tòa án cấp sơ thẩm xác định lỗi dẫn đến Hợp đồng chuyển nhượng căn nhà số B, đường T giữa bà Hoàng Thị Lệ T2 với vợ chồng ông Tô Văn T và bà Trương Mai H bị vô hiệu của mỗi bên là ngang nhau, đồng thời buộc bà Lệ T2 phải hoàn trả lại cho ông T, bà H số tiền gốc chuyển nhượng căn nhà số B đường T là 1700.000.000₫ và ½ số tiền thiệt hại do Hợp đồng chuyển nhượng bị vô hiệu là 1.899.740.000₫ (tổng cộng là 3.599.740.000đ) là có căn cứ.
[10]. Do số tiền 3.599.740.000đ nêu trên là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân của ông T và bà H. Như mục [2] nêu trên đã nhận định tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của ông Tô Văn T rút yêu cầu độc lập về yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn. Nên chấp nhận rút yêu cầu độc lập nêu trên của ông T, nếu sau này ông T và bà H có tranh chấp về số tiền nêu trên thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
[11]. Từ những căn cứ nêu trên, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông T và bà H đối với yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng ngày 19/01/2016,
giữa bà Hoàng Thị Lệ T2 với ông Tô Văn T và bà Trương Mai H và đề nghị tính lại lỗi 100% thuộc về bà Hoàng Thị Lệ T2 là không có căn cứ chấp nhận.
* Xét kháng cáo của ông Tô Văn T về đề nghị được miễn án phí dân sự sơ thẩm, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[12]. Ông T sinh năm 1947 là người cao tuổi, nhưng ông T không nộp Đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm nên Tòa án cấp sơ thẩm không miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông là có căn cứ. Tuy nhiên, sau khi kháng cáo ông T đã có Đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm nên kháng cáo về án phí sơ thẩm của ông T được chấp nhận (sửa án phí do khách quan).
[13]. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh rút toàn bộ yêu cầu kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp; Chấp nhận việc người đại diện theo ủy quyền của ông Tô Văn T rút yêu cầu độc lập về yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn hủy bản án sơ thẩm đối với yêu cầu độc lập đã rút; Không chấp nhận kháng cáo của ông T, bà H đối với các yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng đối với căn nhà số B đường T giữa bà H, ông T với bà Lệ T2 và giải quyết bồi thường thiệt hại do hợp đồng bị vô hiệu, là có căn cứ chấp nhận.
[14]. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Yêu cầu kháng cáo của bà Trương Mai H không được chấp nhận, nhưng hiện nay bà H là người cao tuổi nên được miễn;
Do kháng cáo của ông Tô Văn T được chấp nhận một phần (án phí), hơn nữa ông T là người cao tuổi nên ông T không phải chịu.
[15]. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2, 4, 5 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Chấp nhận việc Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh rút toàn bộ yêu cầu kháng nghị phúc thẩm số 62/QĐ-VKS-DS ngày 17-5-2024 của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng nghị đã rút nêu trên.
Chấp nhận việc người đại diện theo ủy quyền của ông Tô Văn T và người đại diện theo ủy quyền của bà Trương Mai H rút yêu cầu độc lập đối với “Tranh chấp tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn”. Hủy một phần Bản án sơ thẩm và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu đã rút nêu trên.
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tô Văn T về án phí.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Mai H.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 09/2024/DS-ST ngày 04/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp về án phí dân sự sơ thẩm.
Căn cứ Khoản 2 Điều 7 và Điều 8, điểm b khoản 1 Điều 118, Điều 119 Luật Nhà ở 2014; Điều 116, Điều 123, Điều 131, Điều 624, khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Trương Mai H, ông Tô Văn T về việc yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 19/01/2016 giữa bà Hoàng Thị Lệ T2 với ông Tô Văn T, bà Trương Mai H đối với phần đất và căn nhà số B đường T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, thuộc thửa số 07, tờ bản đồ số 34 giữa bà Trương Mai H, ông Tô Văn T với bà Hoàng Thị Lệ T2.
- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên là giao dịch dân sự bị vô hiệu.
- + Buộc bà Hoàng Thị Lệ T2 phải trả cho bà Trương Mai H và ông Tô Văn T (tiền chuyển nhượng và thiệt hại) tổng cộng là: 3.599.740.000đ (ba tỷ năm trăm chín mươi chín triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng). Trong số tiền này, tạm giao cho bà Trương Mai H nhận và quản lý số tiền 1.799.870.000đ (một tỷ, bảy trăm chín mươi chín triệu, tám trăm bảy mươi nghìn đồng); Tạm giao cho ông Tô Văn T được nhận và quản lý số tiền 1.799.870.000 đồng (một tỷ, bảy trăm chín mươi chín triệu, tám trăm bảy mươi nghìn đồng). Nếu sau này bà Trương Mai H và ông Tô Văn T có tranh chấp về số tiền 3.599.740.000đ nêu trên thì được quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Tô Văn T.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Tô Văn T và bà Trương Mai H là người cao tuổi nên được miễn.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Nguyễn Văn Khương |
Bản án số 849/2024/DS-PT ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp: thừa kế; hợp đồng chuyển nhượng qsdđ và tài sản gắn liền với đất; chia tài sản sau ly hôn và yêu cầu hủy giấy chứng nhận qsdđ
- Số bản án: 849/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp: Thừa kế; Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn liền với đất; Chia tài sản sau ly hôn và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSDĐ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Lưu Ngọc Đ kiện Bà Lưu Thị Mỹ T v/v “Tranh chấp: Thừa kế; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; Chia tài sản sau ly hôn và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSDĐ”
