TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 848/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16/5/2024 V/v: Ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Đào
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Nhơn
- Bà Nguyễn Thị Bính Thân
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Nguyễn Hồng An - Thư ký Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 23/4/2024 và ngày 16/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án thụ lý số 1785/2023/TLST-HNGĐ ngày 24/10/2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 114/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/4/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Xuân Bảo L, sinh năm 1976
Địa chỉ: 5 Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Huỳnh Phan Thiên P, sinh năm 1990; địa chỉ: B N, phường V, quận T, Thành phố Đà Nẵng; bà P là luật sư của Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Đ.
- Bị đơn: Bà Võ Thị P1, sinh năm 1983
Địa chỉ: 5 Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, nguyên đơn- ông Trần Xuân L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Võ Thị P1 tự nguyện yêu thương nhau và năm 2013 ông bà đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B, quận B theo Giấy chứng nhận kết hôn số 94/2013, quyển số 01/2013 ngày 23/7/2013.
- Quá trình sống chung, thời gian đầu hạnh phúc, từ năm 2021 hai bên có nhiều mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống, không còn tôn trọng lẫn nhau. Hai bên đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Hiện nay, hai bên đã sống ly thân.
- Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu được ly hôn với bà P1.
- Về con chung: hai bên không có con chung.
- Về tài sản chung: hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
2. Tại bản tự khai ngày 29/11/2023, Tờ tường trình và tố giác ngày 29/11/2023 (về hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng và có hành vi trêu ghẹo xúc phạm danh dự nhân phẩm người khác), Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải ngày 29/12/2023, bị đơn- bà Võ Thị P1 trình bày:
2.1 Tại bản tự khai và Tờ tường trình và tố giác, bà P1 trình bày:
Bà P1 xác nhận lời trình bày của ông L về việc hai bên tự nguyện yêu thương nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B, quận B theo Giấy chứng nhận kết hôn số 94/2013, quyển số 01/2013 ngày 23/7/2013.
Sau khi kết hôn, bà sống hòa thuận và làm tròn trách nhiệm của người vợ với người chồng. Bà và ông L không có con chung. Bà và ông L sống hạnh phúc đến khoảng tháng 5/2023 thì ông L thường xuyên vắng nhà. Bà nhận được tin nhắn từ người lạ mang tính chất đồi trụy và qua tìm hiểu bà biết được ông L ngoại tình, không thương yêu bà P1. Tuy nhiên, bà vẫn còn thương yêu ông L, muốn giữ hạnh phúc nên bà mong muốn Tòa án hòa giải đoàn tụ cho bà với ông L để ông L suy nghĩ lại. Hiện nay, bà P1 không đồng ý ly hôn với ông L.
2.2 Tại Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải ngày 29/12/2023, bà P1 trình bày:
Bà P1 sẽ đồng ý ly hôn với ông L với điều kiện ông L phải thanh toán hết các khoản nợ do bà P1 đã mượn giùm ông L, gồm có các khoản nợ sau:
- Khoản nợ do bà P1 mượn nợ chị S- chị ruột ông L là 110.000.000 đồng,
- Khoản nợ bà P1 mượn nợ giùm ông L tại Ngân hàng 200.000.000 đồng.
Bà P1 cũng xác định những khoản nợ này không phải nợ chung của bà và ông L, đây là nợ riêng của ông L. Khoản nợ này, bà P1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Tại phiên toà:
3.1 Nguyên đơn: Nguyên đơn và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
3.2 Bị đơn: vắng mặt không có lý do, mặc dù Toà án đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn để tham gia phiên toà.
3.3 Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:
Thẩm phán xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tô tụng dân sự năm 2015.
Tòa án xác định vụ kiện thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát thực hiện theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo quy định tại Điều 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tuy nhiên còn vi phạm về thời hạn đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định và tiến hành xét xử vắng mặt đương sự phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn: Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn – ông Trần Xuân Bảo L.
- Về con chung: hai bên trình bày không có con chung.
- Về tài sản chung: hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Quan hệ tranh chấp giữa ông Trần Xuân Bảo L và bà Võ Thị P1 là tranh chấp về Ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 đây là loại vụ việc tranh chấp về Hôn nhân và gia đình; bị đơn cư trú tại quận B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Bình Thạnh.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Toà án đã triệu tập hợp lệ bị đơn đến Toà để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải (lần 2) vào ngày 22/3/2024 và phiên tòa xét xử vụ án. Tuy nhiên, sau khi tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải lần 01 vào ngày 29/12/2023 thì bị đơn đã không tới Tòa án. Phiên toà được mở lần thứ 02 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Việc nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn và bị đơn vắng mặt không làm ảnh hưởng đến nội dung tranh chấp nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn và bị đơn.
[3] Về yêu cầu của nguyên đơn :
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 94/2013, quyển số 01/2013 ngày 23/7/2013 của Ủy ban nhân dân phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, nhận thấy hôn nhân giữa ông Trần Xuân Bảo L và bà Võ Thị P1 là hợp pháp.
Nay nguyện vọng của ông L muốn ly hôn với bà P1 vì hai bên không còn tình yêu thương với nhau, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được.
Hội đồng xét xử xét:
Hôn nhân là việc nam nữ tự nguyện thương yêu và xây dựng hạnh phúc gia đình, trong đó cả hai cùng chung tay vun đắp cho hạnh phúc chung, tin tưởng và cùng nhau vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống. Tuy nhiên, ông L trình bày, quá trình chung sống giữa ông và bà P1 thời gian 02 năm trở lại đây thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do giữa hai người bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng. Bà P1 trình bày nguyên nhân mâu thuẫn là do ông L ngoại tình, thường xuyên vắng nhà từ khoảng tháng 5/2023. Tháng 8/2023 đến nay hai bên đã sống ly thân.
Quá trình giải quyết tại Tòa án, sau khi thụ lý, Tòa án triệu tập bà P1 tới Tòa án làm bản tự khai thì bà P1 hợp tác và mong muốn Tòa án hòa giải đoàn tụ cho bà với ông L. Bà trình bày, đây là lần kết hôn đầu tiên của bà nên bà dành hết tình cảm cho ông L, trong khi ông L kết hôn lần thứ hai và đã có con riêng. Bà không đồng ý ly hôn vì còn thương yêu ông L, bà muốn giữ hạnh phúc và mong Tòa án cho thời gian để ông L có thời gian suy nghĩ lại. Tòa án cũng đã cho hai bên thời gian dài để suy nghĩ lại và nhiều lần thuyết phục ông L đoàn tụ gia đình.
Tuy nhiên, khi tới Tòa án làm việc và hòa giải thì hai bên không tìm được tiếng nói chung mà ngày càng phát sinh mâu thuẫn. Do vậy, tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải lần 01 vào ngày 29/12/2023, bà P1 đã thay đổi quan điểm: bà P1 đồng ý ly hôn với ông L với điều kiện ông L phải tự trả hết các khoản nợ mà bà P1 vay dùm ông L. Bà P1 không yêu cầu Tòa án giải quyết khoản nợ do bà vay giùm ông L.
Sau đó, bà P1 đã vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải lần 02 vào ngày 22/3/2024 và các phiên tòa xét xử mặc dù biết rõ lịch triệu tập của Tòa án. Bà P1 đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân và xác định qua điện thoại với Tòa án là hiện không còn thương yêu ông L nữa vì ông L là người phản bội bà P1 và không xứng đáng với bà, bà P1 bận công việc không có thời gian tới Tòa án nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa ông L và bà P1 không còn tình yêu và sự tin tưởng, tôn trọng nhau. Mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng không thể hàn gắn, trong khi hôn nhân hạnh phúc đòi hỏi phải có tình cảm và sự tự nguyện yêu thương từ hai phía. Do vậy, nguyện vọng của ông L xin được ly hôn với bà P1 là có cơ sở và được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[3.2] Về con chung: Ghi nhận hai bên cùng trình bày không có con chung nên Hội đồng xét xử không xét.
[3.3] Về tài sản chung: Ghi nhận hai bên cùng trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[3.4] Về nợ chung: Ghi nhận hai bên không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[4] Về án phí: Ông Trần Xuân Bảo L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Trần Xuân Bảo L.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Xuân Bảo L được ly hôn với bà Võ Thị P1.
- Về con chung: Ghi nhận hai bên cùng trình bày không có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung: Ghi nhận hai bên cùng trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Ghi nhận hai bên không yêu cầu Toà án giải quyết.
2. Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, ông Trần Xuân Bảo L phải đóng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông L đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0028656 ngày 20/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, ông L đã nộp đủ án phí.
Việc thi hành án được thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Đào |
Bản án số 848/2024/HNGĐ-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 848/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
