Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 847/2024/HSPT

Ngày: 18-9-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm

Các Thẩm phán: 1. Bà Đặng Thị Thanh Huyền

2. Ông Đinh Quốc Trí

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 710/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Vũ Xuân N do có kháng cáo của bị cáo Vũ Xuân N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 128/2024/HS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

* Bị cáo có kháng cáo:

Vũ Xuân N, sinh năm 1982.

ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn L, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Xuân H và bà Nguyễn Thị L; có vợ Nguyễn Thị T và 05 con (con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Năm 2014, Công an huyện Đ xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khoẻ của người khác bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 2.500.000 đồng;

D chỉ bản số [...] lập ngày 22/4/2024 tại Công an huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam: Không; hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1963; nơi cư trú: Thôn L, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cụ Nguyễn Thị D1 (sinh năm 1917; nơi cư trú: thôn L, xã V, huyện Đ, Hà Nội) và cụ Nguyễn Viết N1 (đã chết năm 1967, là chồng cụ D1) có 05 người con đẻ gồm: Bà Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1940), bà Nguyễn Thị S (sinh năm 1948), bà Nguyễn Thị L (sinh năm 1954), bà Nguyễn Thị T2 (sinh năm 1960) và bà Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1963) và 01 người con nuôi là ông Trần Văn D2 (sinh năm 1963; nơi cư trú: thôn L, xã V, huyện Đ, Hà Nội - không có giấy chứng nhận con nuôi).

Năm 2014, cụ D1 chết không viết di chúc về việc phân chia tài sản và quyền sử dụng thửa đất số 54, tờ bản đồ số 04, diện tích 749 m² tại thôn L, xã V, huyện Đ, Hà Nội (Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số U929908 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 30/11/2002, mang tên Nguyễn Thị D1). Đến nay, thửa đất vẫn chưa tiến hành phân chia quyền thừa kế, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện do bà Thu G.

Năm 2018, các con của cụ D1 họp gia đình thống nhất chia thửa đất thành 07 (bảy) phần, 05 năm người con mỗi người một phần, 01 phần xây nhà thờ, 01 phần chia cho ông D2. Hiện trên thửa đất trên gia đình Vũ Xuân N (sinh năm 1982; nơi cư trú: thôn L, xã V, huyện Đ, Hà Nội là con trai bà L) và nhà chị Nguyễn Thị Đ (sinh năm 1987; Nơi cư trú: thôn L, xã V, huyện Đ, Hà Nội là con dâu bà T1) đang sinh sống trên một phần thửa đất. Sau khi phân chia, bà S và bà H1 thuê người xây dựng tường phần đất được chia. Bà H1 và ông D2 chung tiền xây 01 tường gạch (dài 11,8 m, cao 1,4m, tường xây đơn, có bổn trụ, xây bằng hỗn hợp xi măng, cát, gạch lục đặc) làm mốc giới phần đất của ông D2, bà H1 được chia. Đến tháng 4/2023, các con của cụ D1 mâu thuẫn, thay đổi việc phân chia thửa đất thành 05 phần, không chia làm 07 phần như trước nữa.

Ngày 20/10/2023, bà H1 thuê thợ hàn khung sắt kích thước (4x2,5) mét hàn từ các thanh kim loại hình hộp bên ngoài và tiến hành xây tường trên một phần của thửa đất được chia, đến cuối ngày hoàn thành 01 (một) đoạn tường đôi dài 4,74m, cao 0,95m không trát, không bổ trụ và 01 (một) đoạn tường đôi dài 3,43m, cao 1,23m không trát, không bổ trụ xây bằng hỗn hợp xi măng, cát,

gạch lục đặc. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, N đi làm về phát hiện có bức tường mới xây sát vào tường nhà của N, N lấy 01 thanh gậy gỗ tại nhà ra cậy toàn bộ phần tường mới xây và sử dụng máy hàn xì cắt khung sắt đã hàn chắn đoạn bờ tường ngăn cạnh nhà N. Sau đó N dùng thanh sắt cậy khung sắt do N hàn gắn vào đoạn tường của bà H1 xây để làm hàng rào. Khi cậy được khung sắt ra, N dùng tay đẩy mạnh làm đổ toàn bộ bức tường đơn, bổ trụ dài 11,8 m, cao 1,4m bà H1 xây dựng năm 2018 và làm hư hỏng 01 (một) giếng bơm nước trụ bê tông bị vỡ trụ và 01 (một) cây đu đủ trồng đầu năm 2023, đường kính gốc 15 cm, do đổ tường dẫn đến hư hỏng.

Ngày 20/10/2023, bà H1 trình báo sự việc đến Công an xã V thuộc Công an huyện Đ. Tại Cơ quan Công an bà H1 trình báo các tài sản bị huỷ hoại gồm:

  • - 01 (một) đoạn tường xây đơn bằng gạch lục đặc (kích thước 20,5x9,5x5,7 cm) có bổ trụ, dài 11,8 m; cao 1,4m xây bằng hỗn hợp xi măng cát, không trát, xây tháng 5/2018.
  • - 01 (một) đoạn tường đôi dài 4,74m, cao 0,95m không trát, không bổ trụ.
  • - 01 (một) đoạn tường đôi dài 3,43m, cao 1,23m không trát, không bổ trụ.
  • - 01 (một) giếng bơm nước trụ bê tông bị vỡ trụ.
  • - 01 (một) khung sắt kích thước (4x2,5)m hàn từ các thanh kim loại hình hộp, hình trụ có 03 thanh ngang làm tay ngang của bà H1 làm ngày 20/10/2023.
  • - 01 (một) cây đu đủ trồng đầu năm 2023, đường kính gốc 15 cm.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã ra yêu cầu định giá tài sản bị huỷ hoại. Tại bản kết luận định giá tài sản số 233/HĐĐGTS ngày 05/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận:

1/ 01 (một) đoạn tường xây đơn bằng gạch lục đặc (kích thước 20,5x9,5x5,7 cm) có bổ trụ, dài 11,8 m; cao 1,4m xây bằng hỗn hợp xi măng cát, không trát, xây tháng 5/2018, sau khi bị huỷ hoại gạch dính vữa và vỡ không thể tái sử dụng được trị giá: 5.765.480 đồng.

2/ Tiền công và chi phí vật liệu xi măng, cát (không tính gạch) để xây dựng 01 (một) đoạn tường đôi dài 4,74m, cao 0,95m không trát, không bổ trụ trị giá: 1.300.000 đồng.

3/ Tiền công và chi phí vật liệu xi măng, cát (không tính gạch) để xây dựng 01 (một) đoạn tường đôi dài 3,43m, cao 1,23m không trát, không bổ trụ trị giá: 1.250.000 đồng.

4/ Chi phí tiền công, vật liệu để xây dựng 01 (một) trụ bơm nước giếng bằng tay làm từ bê tông, kích thước trụ (14,5x16)cm trị giá: 600.000 đồng.

5/ Chi phí nhân công sửa chữa lại 01 (một) khung sắt kích thước (4x2,5)m hàn từ các thanh kim loại hình hộp, hình trụ có 03 thanh ngang làm tay ngang để bắt tôn, bị cắt rời ra thành nhiều phần riêng lẻ trị giá 1.000.000 đồng.

6/ 01 (một) cây đu đủ trồng đầu năm 2023 đã có quả, đường kính gốc 15 cm trị giá 150.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản 10.065.480 đồng (Mười triệu không trăm sáu mươi lăm nghìn bốn trăm tám mươi đồng).

Tại Cơ quan điều tra, Vũ Xuân N khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được.

* Vật chứng tạm giữ của Vũ Xuân N:

01 thanh gỗ hình chữ nhật, kích thước 2x4x78cm, một đầu nhọn; tiền Việt Nam, tổng giá trị 10.065.000 đồng.

Đối với 01 thanh gậy gỗ là tài sản của N, sử dụng làm công cụ để huỷ hoại tài sản ngày 20/10/2023, Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ phục vụ việc xét xử.

Đối với 01 máy hàn xì sau khi N sử dụng cắt khung sắt ngày 20/10/2023, N sử dụng chiếc máy hàn trên đi làm sau đó bị rơi hỏng, đã bán sắt vụn cho người đi đường, Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Đối với số tiền 10.065.000 đồng, Cơ quan điều tra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu bằng hình thức trao trả cho bà Nguyễn Thị H1 là bị hại, bà H1 không có yêu cầu gì khác về bồi thường dân sự và đề nghị xử lý Nghị theo quy định pháp luật.

Đối với số tiền ông D2 và bà H1 chung tiền xây dựng 01 bức tường dài 11,8m; cao 1,4m xây bằng hỗn hợp xi măng cát, không trát, có bổ trụ, ông D2 không đề nghị bồi thường về phần dân sự, cũng không đề nghị khác đối với việc này.

Đối với các tài sản bị thiệt hại gồm: Chi phí tiền công, vật liệu để xây dựng 01 (một) trụ bơm nước giếng bằng tay làm từ bê tông, kích thước trụ (14,5x16)cm trị giá: 600.000 đồng; 01 (một) cây đu đủ trồng đầu năm 2023 đã có quả, đường kính gốc 15cm trị giá 150.000 đồng, tổng trị giá tài sản là: 750.000 đồng; Trong quá trình huỷ hoại bức tường các tài sản trên bị thiệt hại, N không có ý định huỷ hoại tài sản, do N huỷ hoại bức tường dẫn đến đổ làm hỏng tài sản, phần dân sự đã thỏa thuận xong, Cơ quan điều tra không xem xét tính tổng vào giá trị tài sản bị hủy hoại.

Đối với bà Nguyễn Thị T2 (mẹ đẻ anh N2) tài liệu ban đầu thể hiện bà T2 có gọi điện chỉ đạo anh Dương Văn N2 (con trai bà T2) đến cùng Nghị đẩy đổ các bức tường. Quá trình điều tra xác định bà T2 không gọi điện bảo anh N2 huỷ hoại tài sản của bà H1 nên Cơ quan điều tra - Công an huyện Đ không xem xét, xử lý.

Đối với anh Dương Văn N2 tài liệu ban đầu thể hiện khi sự việc xảy ra anh N2 có mặt tại hiện trường cùng N. Quá trình điều tra xác định khi anh N2 đến đã thấy bức tường bị đổ, anh N2 không thực hiện hành vi huỷ hoại tài sản của bà H1 cùng N nên không có căn cứ xử lý anh N2 đồng phạm với N về hành vi huỷ hoại tài sản.

Tại bản Cáo trạng số 126/CT-VKS ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội truy tố Vũ Xuân N về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số 128/2024/HS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội:

Tuyên bố bị cáo Vũ Xuân N phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự

Xử phạt:

Bị cáo Vũ Xuân N 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 02/7/2024, bị cáo Vũ Xuân N kháng cáo với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Vũ Xuân N thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội nhận định:

Về hình thức kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Vũ Xuân N trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nội dung kháng cáo:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Vũ Xuân N tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo

Vũ Xuân N về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình tài liệu thể hiện bị cáo đã nộp án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo có người thân là người có công với cách mạng, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Xuân N và sửa quyết định của bản án sơ thẩm.

Cụ thể:

Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự

Xử phạt:

Bị cáo Vũ Xuân N 09 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]Đơn kháng cáo của bị cáo Vũ Xuân N trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể, được Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]Căn cứ vào lời khai của bị cáo Vũ Xuân N, vật chứng thu được, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 20/10/2023, Vũ Xuân N đã có hành vi huỷ hoại tài sản 01 đoạn tường đôi dài 3,43m, cao 1,23m không trát, không bổ trụ trị giá 1.300.000 đồng; 01 đoạn tường đôi dài 3,43m, cao 1,23m không trát, không bổ trụ trị giá: 1.250.000 đồng và 01 đoạn tường xây đơn bằng gạch lục đặc (kích thước 20,5x9,5x5,7cm) có bổ trụ dài dài 11,8m, cao 1,23m không trát xây tháng 5 năm 2018 trị giá 5.765.4800 đồng; Chi phí nhân công sửa chữa lại 01 khung sắt kích thước (4x2,5)m hàn từ các thanh kim loại hình hộp, hình trụ có 03 thanh ngang làm tay ngang để bắt tôn, bị cắt rời ra thành nhiều phần riêng lẻ trị giá

1.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị H1 tại thửa đất số 54, tờ bản đồ số 04, diện tích 749 m² tại thôn L, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Tổng trị giá tài sản bị huỷ hoại là 9.315.480 đồng.

Hành vi của bị cáo Vũ Xuân N đã cấu thành tội “Hủy hoại tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Vũ Xuân N về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Vũ Xuân N, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Xuân N là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội; đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của pháp luật để răn đe và phòng ngừa chung.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo Vũ Xuân N có 01 tiền sự mặc dù đã hết thời hiệu nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu; đồng thời xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phù hợp.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục toàn bộ thiệt hại cho bà H1; xem xét bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng để cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Vũ Xuân N xuất trình tài liệu thể hiện bị cáo đã nộp án phí hình sự sơ thẩm, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, bị cáo có người thân (bố ruột) là người có công với cách mạng nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Xét hậu quả xảy ra thiệt hại không lớn về tài sản, bị cáo đã khắc phục toàn bộ thiệt hại, xét bị cáo Vũ Xuân N có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Xuân N và sửa quyết định của bản án sơ thẩm, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội biết ăn năn, hối cải.

[4]Hội đồng xét xử sửa quyết định của bản án sơ thẩm nên bị cáo Vũ Xuân N không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

[5]Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự:

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Xuân N và sửa Quyết định của bản án sơ thẩm:

Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Vũ Xuân N 09 (Chín) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Vũ Xuân N cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Vũ Xuân N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Vũ Xuân N cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Vũ Xuân N không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 18/9/2024.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - Công an huyện Đông Anh;
  • - VKSND huyện Đông Anh;
  • - TAND huyện Đông Anh;
  • - THADS huyện Đông Anh;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, V.Phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 847/2024/HSPT ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm (tội hủy hoại tài sản)

  • Số bản án: 847/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Hủy hoại tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 20/10/2023, Vũ Xuân Nghị đã có hành vi huỷ hoại tài sản 01 đoạn tường đôi dài 3,43m, cao 1,23m không trát, không bổ trụ trị giá 1.300.000 đồng; 01 đoạn tường đôi dài 3,43m, cao 1,23m không trát, không bổ trụ trị giá: 1.250.000 đồng và 01 đoạn tường xây đơn bằng gạch lục đặc (kích thước 20,5x9,5x5,7cm) có bổ trụ dài dài 11,8m, cao 1,23m không trát xây tháng 5 năm 2018 trị giá 5.765.4800 đồng; Chi phí nhân công sửa chữa lại 01 khung sắt kích thước (4x2,5)m hàn từ các thanh kim loại hình hộp, hình trụ có 03 thanh ngang làm tay ngang để bắt tôn, bị cắt rời ra thành nhiều phần riêng lẻ trị giá 1.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Hồng tại thửa đất số 54, tờ bản đồ số 04, diện tích 749 m2 tại thôn Lỗ Giao, xã Việt Hùng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Tổng trị giá tài sản bị huỷ hoại là 9.315.480 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger