|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 853/2024/DS-PT
Ngày: 26 - 9 - 2024
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất và
yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh
Các Thẩm phán: Ông Vũ Đức Toàn
Bà Bùi Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 482/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 41/2024/DS-ST ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5888/2024/QĐPT ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- + Ông Đặng Ngọc E, sinh năm 1963;
- + Bà Trần Ngọc T, sinh năm 1971;
Cùng cư trú: Số C, tổ G, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Trần Ngọc P, Luật sư Công ty L4. (có mặt)
Bị đơn:
- + Bà Võ Thị K, sinh năm 1951; (vắng mặt)
- + Bà Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1975; (có mặt)
- + Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1977; (có mặt)
Cùng cư trú: số nhà C; Tổ G, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Đại diện theo ủy quyền cho bị đơn: Ông Nguyễn Phước H1, sinh năm 1997; nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (theo Văn bản ủy quyền ngày 20/6/2023); (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Ủy ban nhân dân thành phố L. Địa chỉ: Số I, N, Phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
-
Bà Đặng Thị Ngọc L1, sinh năm 1959; nơi cư trú: Khu dân cư Ấ, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; (có mặt).
Đại diện theo ủy quyền cho bà L1: Ông Đặng Ngọc E (theo Tờ thỏa thuận ủy quyền ngày 07/03/2023); (có mặt).
-
Ông Đặng Văn L2, sinh năm 1963 (chết năm 2023), cư trú: Tổ C, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông L2 gồm:
- Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1963;
- Đặng Nguyễn Bích T1, sinh năm 1982;
- Đặng Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1984;
- Đặng Nguyễn Thanh Đ1, sinh năm 1988.
Cùng cư trú: Tổ C, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Đại diện theo ủy quyền cho Mỹ D, Bích T1, T, T: Ông Đặng Ngọc E (theo Tờ thỏa thuận ủy quyền ngày 22/12/2023); (có mặt).
-
Ông Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 1939 (chết), cư trú: Tổ G, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông H2 gồm:
- Ông Nguyễn Thế C, sinh năm 1972;
- Ông Nguyễn Thế H3, sinh năm 1973;
- Ông Nguyễn Đức K1, sinh năm 1980;
- Ông Nguyễn Quốc T2, sinh năm 1982; (có mặt).
- Ông Nguyễn An T3, sinh năm 1988;
- Bà Lê Thị Cẩm L3, sinh năm 1990;
- Cháu Nguyễn Phú H4, sinh năm 2020;
Người đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Phú H4: Ông Nguyễn An T3 và bà Lê Thị Cẩm L3.
Cùng cư trú: Tổ G, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
-
Bà Đặng Thị Cẩm T4, sinh năm 1994;
-
Bà Đặng Thị Cẩm T5, sinh năm 1998;
-
Bà Đặng Ngọc A, sinh năm 2011;
Cùng cư trú: Số C, tổ G, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người kháng cáo: Do có kháng cáo của bị đơn bà Võ Thị K, bà Nguyễn Thị Cẩm H và bà Nguyễn Thị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày: Nguồn gốc đất của nguyên đơn được cha, mẹ cho lại, có diện tích khoảng 200m², trên đất có căn nhà của cha mẹ để lại cho nguyên đơn sử dụng ổn định từ năm 1965 và căn nhà đã cất từ năm 1973, sau khi cha, mẹ nguyên đơn qua đời thì nguyên đơn tiếp tục sở hữu, sử dụng đến nay; khi đi kê khai đăng ký quyền sử dụng đất thì được cán bộ phụ trách đo đạc cho biết ông H2, bà K đã được Ủy ban nhân dân thành phố L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: H.01829gA ngày 21/6/2006, diện tích: 153m², tờ bản đồ số 43, thửa số 91 do Ủy ban nhân dân T cấp cho Nguyễn Văn H5 và bà Võ Thị K, đã lấn qua phần đất của nguyên đơn, tức phạm vào diện tích đất gắn liền với nhà nguyên đơn đang ở.
Tại Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 19/12/2023 của Văn phòng Đ2 Chi nhánh L5 thể hiện có các điểm 35, 31, 32, 36, 2 là phần diện tích nhà ở của ông Nguyễn Ngọc E1 và bà Trần Ngọc T; thì diện tích đất gắn liền căn nhà của các nguyên đơn đã bị giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân T cấp cho Nguyễn Văn H5 và bà Võ Thị Kiều C1 lấn qua phần nhà gắn liền với đất của nguyên đơn diện tích 14,4m² (kèm theo Bản trích đo hiện trạng khu đất).
Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSDĐ nói trên của ông H5, bà K trả lại diện tích cấp giấy CN.QSDĐ lấn chiếm cho nguyên đơn khoảng 14,4m².
- Quá trình tố tụng bị đơn và đại diện bị đơn trình bày: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại đất lấn chiếm, diện tích khoảng 13m²; đồng thời yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND thành phố L cấp cho bà Võ Thị K, ông Nguyễn Văn H5; lý do: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Võ Thị K, ông Nguyễn Văn H5 được cấp lấn vào nhà, đất của ông Đặng Ngọc E, bà Trần Ngọc T.
Chúng tôi không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc trả lại diện tích 13m² đất lấn chiếm và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.
Vì những lý do như sau:
Thứ nhất, bà Võ Thị K, ông Nguyễn Văn H5 là chủ sử dụng thửa đất số 91, tờ bản đồ 43, diện tích 153m², loại đất ở tại đô thị, theo GCN QSDĐ số H.01829gA, AD 661959, do UBND thành phố L cấp ngày 21/6/2006. Quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật, trong suốt quá trình cấp giấy chứng nhận không có bất kỳ kiếu nại, khiếu kiện gì.
Thứ hai, ông Đặng Ngọc E, bà Trần Ngọc T là chủ sử dụng thửa đất số 88, tờ bản đồ 91, diện tích 122,8m², giáp ranh với thửa số 91, diện tích 153m2 chủ sử dụng là bà K, ông H5, thể hiện thông qua tờ Bản đồ 283 – đo đạc năm 2005, căn nhà (phần nhà phía trước hiện nay) của ông E, bà T đã xây dựng lấn qua phần đất thuộc thửa 91 của bà K, ông H5.
Vì vậy, chính căn nhà của ông E, bà T đã xây dựng lấn chiếm vào thửa đất thuộc quyền sử dụng đã được cấp giấy chứng nhận của bà K, ông H5, chứ không phải đất của bà K, ông H5 cấp giấy lấn vào nhà của ông E, bà T.
Thứ ba, phần nhà phía sau của ông E, bà T không phải được xây dựng năm 1973, phần nhà này chỉ mới được xây dựng vào năm 2018, còn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà K, ông H5 đã được cấp vào năm 2006 trước khi ông E, bà T xây dựng hơn 12 năm, thể hiện thông qua các tờ Bản đồ 283 – đo đạc năm 2005 và các tờ bản đồ hiện nay đều không thể hiện phần nhà phía sau của ông E, bà T có tồn tại.
Vì vậy, có cơ sở xác định phần nhà phía sau của ông E, bà T đã xây dựng sau và lấn chiếm vào phần đất đã được cấp giấy chứng nhận của bà K, ông H5.
Từ những cơ sở nêu trên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đòi 13m2 đất và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà K, ông H5 là không có căn cứ.
- Ủy ban nhân dân thành phố L có Công văn số: 1383/UBND-NC ngày 7/02/2024 trình bày: Ông Nguyễn Văn H5, bà Võ Thị K được UBND thành phố L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN.QSDĐ) số H.01829gA ngày 21/6/2006 thuộc thửa số 91, số tờ bản đồ 43, diện tích 153m², theo hồ sơ lưu thể hiện: Đơn xin cấp GCN.QSDĐ của ông H5, bà K kê khai nguồn gốc đất sử dụng ổn định năm 1975 có xác nhận của UBND phường M và Phòng T6 xác nhận đủ điều kiện cấp GCN.QSDĐ ngày 15/6/2006. Biên bản xác định ranh giới, mốc giới khu đất lập ngãy/4/2004 có xác nhận của UBND phường M thể hiện đầy đủ chữ ký của các hộ tứ cận (do đây là hồ sơ cấp theo dạng đại trà); trình tự thủ tục cấp GCN.QSDĐ cho ông H5, bà K được thực hiện đúng quy định.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 41/2024/DS-ST ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 34a, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, 147, 158, 165, 166, 227, 228, 266, 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 164, 166 Bộ luật dân sự 2015; khoản 5 Điều 166 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Ngọc E và bà Trần Ngọc T.
- Hủy GCN.QSDĐ số vào sổ cấp GCN: H.01829gA ngày 21/6/2006, diện tích: 153m², tờ bản đồ số 43, thửa số 91, do Ủy ban nhân dân T cấp cho Nguyễn Văn H5 và bà Võ Thị K (trả lại phần diện tích đất ở cấp trong giấy chứng nhận QSDĐ bị đơn đã lấn qua phần đất ở của nguyên đơn), tại các điểm 35, 31, 32, 36, 2 diện tích 14,4m², đất tọa lạc phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, theo Bản trích hiện trạng khu đất ngày 19/12/2023 của Văn phòng Đ2 chi nhánh L5 (kèm theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 19/12/2023).
- Ông Đặng Ngọc E và bà Trần Ngọc T, tiếp tục được trọn quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 14,4m² nói trên.
Nguyên đơn, bị đơn có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 12 tháng 4 năm 2024, bị đơn bà Võ Thị K, bà Nguyễn Thị Cẩm H và bà Nguyễn Thị L làm đơn kháng cáo đề nghị hủy án sơ thẩm; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì bị đơn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nguyên đơn chưa được cấp giấy chứng nhận.
- Nguyên đơn và người bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn trình bày: Nguồn gốc nhà đất của nguyên đơn và bị đơn đều do cha mẹ để lại sử dụng từ năm 1975 đến nay không có thay đổi gì, khi bị đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cấp lấn chồng sang đất nguyên đơn đang sử dụng, không ai lấn chiếm của ai. Đề nghị Tòa án giữ nguyên án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Ngày 12 tháng 4 năm 2024, bị đơn bà Võ Thị K, bà Nguyễn Thị Cẩm H và bà Nguyễn Thị L làm đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự tố tụng phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung: Ông Đặng Ngọc E, bà Trần Ngọc T khởi kiện yêu cầu yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông H5, bà K và yêu cầu trả lại cho nguyên đơn diện tích đất bị đơn lấn chiếm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân thành phố L cấp cho ông Nguyễn Văn H5 và bà Võ Thị Kiều C1 lấn qua phần nhà gắn liền với đất của nguyên đơn diện tích 14,4m².
[2.1] Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp của nguyên đơn được cha, mẹ để lại, nguyên đơn chứng minh bằng các biên lai thuế mà ông Đặng Văn C2 cha nguyên đơn nộp thuế, cụ thể là thông báo nộp thuế nhà đất số [...] ngày 7/3/2008 của Chi cục thuế thành phố L, với diện tích cha nguyên đơn chịu thuế theo thông báo có diện tích đất phải chịu thuế là 122,80m², trên đất gắn liền với căn nhà của cha mẹ để lại cho nguyên đơn sử dụng ổn định từ năm 1973, sau khi cha, mẹ nguyên đơn qua đời thì nguyên đơn tiếp tục sở hữu và khi nhà ở cây bị hư mục thì nguyên đơn có sửa chữa lại phần nhà, còn nền vẫn y vị trí cũ sử dụng đến nay; đến năm 2000 khi đi kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cơ quan chuyên môn cho biết phần diện tích đất gắn liền với nhà đang ở bị giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn đã cấp qua phần đất nguyên đơn đang ở, nên không cấp được giấy chứng nhận và hướng dẫn nguyên đơn khởi kiện.
[2.2] Tại Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 19/12/2023 của Văn phòng Đ2 Chi nhánh L5, thể hiện có các điểm 35, 31, 32, 36, 2 là phần diện tích nhà ở của ông Nguyễn Ngọc E1 và bà Trần Ngọc T; thì diện tích đất gắn liền căn nhà của các nguyên đơn đã bị giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp cho ông Nguyễn Văn H5 và bà Võ Thị Kiều C1 lấn qua phần nhà gắn liền với đất của nguyên đơn diện tích 14,4m².
Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: H.01829gA ngày 21/6/2006, diện tích: 153m², tờ bản đồ số 43, thửa số 91 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp cho Nguyễn Văn H5 và bà Võ Thị K, đã lấn qua phần đất của nguyên đơn diện tích đất 14,4m² gắn liền với nhà nguyên đơn đang ở và trả lại diện tích cấp giấy CNQSDĐ lấn chiếm cho nguyên đơn theo diện tích đất ở đo đạc thực tế 14,4m².
[2.3] Bị đơn cho rằng do căn nhà gắn liền với đất của nguyên đơn trước đây ở ổn định, khi cấp Giấy chứng nhận cho bị đơn thì nhà nguyên đơn đã có, hai nhà ở sát vách nhau; nhưng sau này khi nguyên đơn sửa chữa có lấn qua phần lối đi của bị đơn, nhưng không có căn cứ chứng minh nguyên đơn sửa nhà lấn chiếm nền đất thì bị đơn phải yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết. Thực tế hiện tại giữa hai nhà vẫn đang có một khoảng cách là lối đi không phát sinh tranh chấp, diện tích đất nhà nào thì nhà đó vẫn sử dụng từ trước đến nay.
[2.4] Công văn số 1383/UBND-NC ngày 07/02/2024 của UBND thành phố L cung cấp Đơn xin cấp giấy chứng nhận của ông H5, bà K kê khai nguồn gốc đất sử dụng ổn định năm 1975 có xác nhận của UBND phường M và Phòng T6 xác nhận đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/6/2006. Biên bản xác định ranh giới, mốc giới khu đất lập ngày 04/4/2004 có xác nhận của UBND phường M thể hiện đầy đủ chữ ký của các hộ tứ cận thì có chữ ký của ông Nguyễn Văn C3 nhưng cha của nguyên đơn là ông Đặng Văn C2, nên không có cơ sở khẳng định đúng chữ ký và chữ viết là một người và của ông Đặng Văn C2 hay không, đây cũng là đợt cấp giấy chứng nhận đại trà nên thủ tục hồ sơ đo vẽ có thể chưa chính xác vì thực tế từ trước đến nay nhà đất của bên nào bên đó sử dụng ổn định, không tranh chấp, ngay cả khi bị đơn được cấp giấy chứng nhận cũng không biết đất trên giấy chứng nhận có phần đất bên nguyên đơn đang sử dụng. Chỉ đến khi nguyên đơn đi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cơ quan địa chính kiểm tra cho biết, nên nguyên đơn mới khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận đã cấp cho bị đơn có phần đất 14,4m² là có căn cứ.
Tại cấp phúc thẩm bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Do cha mẹ nguyên đơn đã chết, ông E1 và bà T đã được các đồng thừa kế đồng ý ủy quyền khởi kiện và đại diện tham gia tố tụng, chưa có khai nhận thừa kế cho nhận tài sản, nên tòa án chỉ tuyên ông E1 và bà T đại diện cho các đồng thừa kế tiếp tục được quản lý sử dụng diện tích đất 14,4m².
[3] Đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích cho nguyên đơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn đã tạm ứng 7.117.000 đồng và tự nguyện chịu chi phí như án sơ thẩm đã tuyên.
[5] Về án phí dân sự: Bị đơn bà Cẩm H, bà L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Bà K được miễn án phí dân sự phúc thẩm do thuộc trường hợp người cao tuổi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Võ Thị K, bà Nguyễn Thị Cẩm H và bà Nguyễn Thị L. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 41/2024/DS-ST ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN H.01829gA ngày 21/6/2006, diện tích: 153m², tờ bản đồ số 43, thửa số 91, do Ủy ban nhân dân T cấp cho ông Nguyễn Văn H5 và bà Võ Thị K để trả lại phần diện tích đất 14,4m² đã cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thể hiện tại các điểm 35, 31, 32, 36, 2 tọa lạc phường M, thành phố L, tỉnh An Giang theo Bản trích hiện trạng khu đất ngày 19/12/2023 của Văn phòng Đ2 chi nhánh L5 (kèm theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 19/12/2023 án sơ thẩm).
- Ông Đặng Ngọc E và bà Trần Ngọc T đại diện cho các đồng thừa kế tiếp tục quản lý sử dụng diện tích đất 14,4m²
- Nguyên đơn, bị đơn có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
-
Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn đã tạm ứng 7.117.000 đồng và tự nguyện chịu chi phí như án sơ thẩm đã tuyên.
-
Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn bà Cẩm H, bà L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ theo biên lai tạm ứng án phí số 0000267 ngày 17/4/2024 và 0000270 ngày 22/4/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
Bà K được miễn án phí dân sự phúc thẩm do thuộc trường hợp người cao tuổi. Hoàn trả cho bà K số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0000266 ngày 17/4/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
-
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
-
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày Tòa tuyên án là ngày 26/9/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh |
Bản án số 853/2024/DS-PT ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 853/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án
