|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 845/2024/HS-PT
Ngày 17 tháng 9 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Hoàng Minh Thịnh |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Thanh |
| Ông Phạm Công Mười | |
| Thư ký phiên tòa: | Ông Bùi Danh Quốc Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: | Ông Đoàn Văn Vâng - Kiểm sát viên. |
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở: Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 514/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo Phạm Văn T và các bị cáo khác do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 211/2024/HS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo bị kháng nghị:
- Họ và tên: Phạm Văn T; sinh năm 1990 tại tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Căn hộ 3.04 A1 chung cư H, số D D, Tổ A, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 9/12; con ông Phạm Văn K và bà Triệu Thị N; V là Trương Hoài T1 và có 03 con, đứa lớn nhất sinh năm 2016, đứa nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không.
Bị tạm giam từ ngày 21/9/2023; có mặt.
- Họ và tên: Phạm Văn K1; sinh năm 1991 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Căn hộ 6.07 A2 chung cư H, số D D, Tổ A, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 11/12; con ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị H1; V là Võ Thị Út H2 và có 03 con, đứa lớn nhất sinh vào năm 2018, đứa nhỏ nhất sinh vào năm 2024; tiền án: không.
Tiền sự: Ngày 10/10/2023, Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, về hành vi “Không đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền có cầm cố tài sản hoặc không cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự”.
Bị tạm giam từ ngày 21/9/2023; có mặt.
- Họ và tên: Phạm Hùng C; sinh năm 1985 tại tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú: 233B khu T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú lúc phạm tội: Căn hộ 19.11 A1 chung cư H, số D D, Tổ A, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 9/12; con ông Phạm Ngọc S và bà Vũ Thị H3; có vợ tên Nguyễn Thu H4; có 02 con, con lớn sinh năm 2013 và nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không.
Bị tạm giam từ ngày 21/9/2023 đến ngày 17/11/2023 thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Họ và tên: Đỗ Võ Hoài N1; sinh năm 1993 tại tỉnh Khánh Hòa; nơi đăng ký thường trú: Khu phố I, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; nơi cư trú: 4 Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; con ông Đỗ Văn M và bà Nguyễn Thị Đ; có vợ tên Hứa Bảo L và có 01 con, sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không.
Bị tạm giam từ ngày 21/9/2023 đến ngày 17/11/2023 thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Hùng C: Luật sư Nông Minh Đ1, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H – Có mặt.
(Ngoài ra, trong vụ án còn có 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm Trần Thị Thùy T2, Nguyễn Thị Hoài V1 nhưng không kháng cáo, không liên quan tới kháng cáo. kháng nghị nên Tòa án không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 4/2023, Phạm Văn T cùng với Phạm Văn K1 và Phạm Hùng C từ Nam Định vào Thành phố Hồ Chí Minh để sinh sống và thực hiện hoạt động cho vay tiền với lãi suất cao. T quen biết với Đỗ Võ Hoài N1 là người tạo lập trang web https://vaynhanhtphcm.net, tìm những người có nhu cầu vay tiền để tư vấn về hình thức vay, mức lãi suất, phí dịch vụ và giới thiệu người vay cho các tổ chức tín dụng mà N1 quen biết. T và N1 thỏa thuận nếu khách có nhu cầu vay trả góp theo ngày hoặc vay đứng, với mức lãi suất khoảng từ 20% đến 30%/tháng thì N1 sẽ chuyển thông tin khách vay cho T, để T đi kiểm tra, xác minh thông tin người vay và trực tiếp thỏa thuận việc vay tiền. Nếu T cho vay được thì N1 được hưởng phí môi giới từ 5% đến 10% giá trị khoản vay, do T trả.
Đầu tháng 5/2023, bà Trần Thị Thùy T2 nhờ cháu ruột là Nguyễn Thị Hoài V1 sử dụng mạng internet liên hệ với Đỗ Võ Hoài N1 để hỏi về việc vay tiền cho bà T2. Qua điện thoại, N1 tư vấn cho bà T2 vay tiền trả góp theo ngày hoặc vay đứng, với mức lãi suất khoảng từ 20% đến 30%/tháng thì bà T2 đồng ý. Sau đó N1 đã chuyển thông tin của bà T2 cho T và T đã liên hệ, thỏa thuận cho bà T2 vay số tiền 500.000.000 đồng, trả góp trong 21 ngày, mỗi ngày trả 30.000.000 đồng, thu trước 03 ngày góp là 90.000.000 đồng và phí dịch vụ 5% giá trị khoản vay. Sau khi thỏa thuận được với bà T2 thì T, C và K1 thống nhất góp vốn để cho bà T2 vay, theo đó T góp 300.000.000 đồng, K1 và C mỗi người góp 100.000.000 đồng và số tiền nhận lại sẽ tương ứng với số tiền góp ban đầu. Cụ thể trong khoản trả góp 30.000.000 đồng/ngày thì T sẽ nhận được 18.000.000 đồng, C và Khu mỗi người nhận được 6.000.000 đồng.
Ngày 08/5/2023, T sử dụng tài khoản ngân hàng T3 số 19036083093019 mang tên Trương Hoài T1 là vợ của T để chuyển khoản cho bà T2 số tiền 395.000.000 đồng, sau khi đã trừ 03 ngày trả góp và tiền môi giới của N1 theo thỏa thuận. T chuyển cho N1 số tiền môi giới là 15.000.000 đồng.
Bà T2 thực nhận 395.000.000 đồng, bà trả nợ góp đến ngày 21/5/2023, tổng cộng được 16 ngày với số tiền là 480.000.000 đồng, còn thiếu 5 ngày thì không có khả năng trả nợ nữa. Ngày 22/5/2023, bà T2 liên hệ lại với T để đáo hạn khoản nợ và được T tiếp tục cho vay 500.000.000 đồng, trả góp trong 21 ngày, mỗi ngày 30.000.000 đồng, thu trước 03 ngày là 90.000.000 đồng và tiền phí 10.000.000 đồng. Đồng thời để đáo hạn khoản vay trước thì bà T2 bị trừ số tiền 150.000.000 đồng, tương ứng với 05 ngày trả góp và cùng ngày T chuyển khoản cho bà T2 số tiền 250.000.000 đồng.
Bà T2 trả góp được 03 ngày với số tiền 90.000.000 đồng, đến ngày 26/5/2023 còn 450.000.000 đồng thì bà T2 không còn khả năng thanh toán khoản nợ, nên T, K1 và C đến Công ty TNHH P tại I Đ, Phường C, quận B do bà T2 là Giám đốc để đòi nợ. Tại đây, T, K1 và C gặp chị Nguyễn Thị Hoài V1 là cháu của bà T2 để yêu cầu bà T2 trả nợ thì chị V1 đứng ra xin trả nợ giúp cho bà T2, chị V1 đồng ý trả góp mỗi ngày là 15.000.000 đồng và trả trong 35 ngày, sau đó chị V1 đã chuyển số tiền 15.000.000 đồng cho T. Tuy nhiên, do không còn khả năng thanh toán nên bà T2 không dám sử dụng điện thoại, không dám về nhà và đến ngày 15/9/2023 thì bà T2 làm đơn tố giác hành vi của T, K1 và C gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H.
Ngày 21/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Văn T, Phạm Văn K1, Phạm Hùng C và Đỗ Võ Hoài N1.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 211/2024/HS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 201; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt Phạm Văn T 9 (Chín) tháng tù, về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (Ngày 21/9/2023).
Xử phạt Phạm Văn K1 7 (Bảy) tháng 18 (Mười tám) ngày tù, về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (Ngày 21/9/2023). Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.
Căn cứ vào khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:
Trả tự do cho bị cáo Phạm Văn K1 ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 201; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt Phạm Hùng C 7 (B) tháng tù, về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 09/5/2024).
Giao bị cáo Phạm Hùng C cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo C thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Xử phạt Đỗ Võ Hoài N1 6 (S1) tháng tù, về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 09/5/2024).
Giao bị cáo Đỗ Võ Hoài N1 cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo N1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của Bản án trước và tổng hợp hình phạt của Bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo không kháng cáo.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị số 20/KN-VKS-P2 đối với Bản án hình sự sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không áp dụng chế định án treo đối với các bị cáo Phạm Hùng C, Đỗ Võ Hoài N1 và áp dụng hình phạt tiền đối với tất cả các bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên Quyết định kháng nghị số 20/KN-VKS-P2 ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Các bị cáo Phạm Văn T, Phạm Văn K1, Phạm Hùng C và Đỗ Võ Hoài N1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như án sơ thẩm quy kết. Các bị cáo tỏ rõ sự ăn năn hối cải, hối hận về hành vi phạm tội của mình nên mong Hội đồng xét xử xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ vào chứng cứ có tại hồ sơ và được thẩm vấn công khai tại phiên toà thì có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo đã bàn bạc và cùng nhau góp tiền để hoạt động cho vay lãi nặng, vượt gấp nhiều lần so với quy định pháp luật, thu lợi bất chính gần 200.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo hình phạt tù, trong đó cho bị cáo C và N1 được hưởng án treo là không nghiêm và không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo là chưa đúng với Nghị Quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sửa Bản án sơ thẩn về hình phạt đối với cả 02 bị cáo Phạm Hùng C và Đỗ Võ Hoài N1 và áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với tất cả các bị cáo, cụ thể: Phạt bổ sung các bị cáo Phạm Văn T, Phạm Văn K1, Phạm Hùng C, Đỗ Võ Hoài N1 mỗi bị cáo từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng. Chuyển 07 tháng tù cho hưởng án treo thành 07 tháng tù giam đối với bị cáo C; chuyển 06 tháng tù cho hưởng án treo thành 06 tháng tù giam đối với bị cáo N1.
Luật sư bào chữa cho bị cáo C phát biểu: Trong vụ án này bị cáo C có vai trò đồng phạm, thứ yếu, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, bị cáo đủ điều kiện để được hưởng án treo mong Hội đồng xét xử xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Nhằm mục đích thu lợi bất chính nên các bị cáo Phạm Văn T, Phạm Văn K1, Phạm Hùng C bàn bạc góp tiền với nhau để thực hiện hoạt động cho vay với lãi suất cao. Bị cáo T thỏa thuận với Đỗ Võ Hoài N1 là người lập trang web https:/vaynhanhtphcm.net để tìm những người có nhu cầu vay tiền rồi tư vấn giới thiệu cho nhóm T, hưởng phí môi giới từ 5% đến 10% giá trị khoản vay. Vào ngày 08/5/2023, các bị cáo cho bà Trần Thị Thùy T2 vay 500.000.000 đồng, trả góp trong 21 ngày, mỗi ngày trả 30.000.000 đồng và bà T2 phải chịu 15.000.000 đồng tiền phí cho người môi giới, tổng cộng là 645.000.000 đồng. Lần vay này các bị cáo đã thu của bà T2 đủ tiền gốc, tiền lãi và phí môi giới. Lần thứ hai là vào ngày 22/5/2023, các bị cáo tiếp tục cho bà T2 vay 500.000.000 đồng, trả góp trong 21 ngày, mỗi ngày trả 30.000.000 đồng, tiền phí cho người môi giới là 10.000.000 đồng, tổng cộng là 640.000.000 đồng. Lần vay này bà T2 đã trả được 6 ngày với số tiền 180.000.000 đồng, sau đó bà T2 không còn khả năng trả nợ thì cháu của bà T2 là Nguyễn Thị Hoài V1 trả thêm cho các bị cáo được 15.000.000 đồng. Tổng số tiền mà các bị cáo thu lợi bất chính là: 184.715.000 đồng.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, ngoài ra còn ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh, an toàn xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố các bị cáo phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo Điều 201 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật. Do số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 184.715.000 đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết định khung tăng nặng theo khoản 2 “Phạm tội mà thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên...” là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, thấy rằng: Các bị cáo Phạm Văn T, Phạm Văn K1, Phạm Hùng C và Đỗ Võ Hoài N1 phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo T, bị cáo K1 có vai trò cao hơn các bị cáo khác, do đó Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù giam đối với hai bị cáo này là đúng. Các bị cáo C và N1 chưa có tiền án, tiền sự có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và vai trò thấp hơn bị cáo T và Khu nên Tòa án cấp sơ thẩm cho bị cáo C, N1 được hưởng án treo là phù hợp.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo là chưa đúng với Nghị Quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Với các tài liệu chứng cứ và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, sửa một phần Bản án sơ thẩm.
[5] Quan điểm của đại diện Việm kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ một phần nên được chấp nhận.
[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Chấp nhận một phần kháng nghị số 20/KN-VKS-P2 ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 211/2024/HS-ST ngày 09/5/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
Căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 201; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- - Xử phạt Phạm Văn T 9 (Chín) tháng tù, về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (Ngày 21/9/2023).
- Phạt bổ sung bị cáo Phạm Văn T 40.000.000 đồng.
- - Xử phạt Phạm Văn K1 7 (Bảy) tháng 18 (Mười tám) ngày tù, về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (Ngày 21/9/2023). Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.
- Phạt bổ sung bị cáo Phạm Văn K1 40.000.000 đồng.
Căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 201; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo N1.
- - Xử phạt Phạm Hùng C 7 (B) tháng tù, về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 09/5/2024).
- Giao bị cáo Phạm Hùng C cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo C thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
- Phạt bổ sung bị cáo Phạm Hùng C 30.000.000 đồng.
- - Xử phạt Đỗ Võ Hoài N1 6 (S1) tháng tù, về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 09/5/2024).
- Giao bị cáo Đỗ Võ Hoài N1 cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo N1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
- Phạt bổ sung bị cáo Đỗ Võ Hoài N1 30.000.000 đồng.
- - Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của Bản án trước và tổng hợp hình phạt của Bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Minh Thịnh |
Bản án số 845/2024/HS-PT ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 845/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng nghị số 20/KN-VKS-P2 ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 211/2024/HS-ST ngày 09/5/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
