Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 884/2024/DS-ST

Ngày: 23-8-2024.

V/v tranh chấp về hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Ngọc Mỹ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đỗ Xuân Nam
  2. Bà Huỳnh Thu An

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Ánh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích P - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 278/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 116/2024/QĐST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên H1 (Việt Nam).

Trụ sở: Tầng 1, 2, 6 Tòa nhà M, B Đ, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Timothy Mark Redvers E - Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Saram S - Giám đốc Quản lý danh mục tín dụng tiêu dùng.

Địa chỉ: Tầng A, tòa nhà C, A N, Phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. (Giấy ủy quyền ngày 23/11/2022)

Người đại diện theo ủy quyền: 1/ Ông Nguyễn Bách K. (vắng mặt)

2/ Ông Hoàng Trọng Tuấn N. (có mặt)

3/ Bà Võ Kiều H. (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Tầng A, tòa nhà C, A N, Phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. (Giấy ủy quyền ngày 08/3/2024)

2. Bị đơn: Ông Phạm Việt T, sinh năm 1972. (vắng mặt)

Địa chỉ: 7 T, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 08/3/2019; đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 15/7/2020, các bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên H1 (Việt Nam) (người đại diện hợp pháp ông Hoàng Trọng Tuấn N) trình bày:

Ngày 23/4/2009, ông T đã ký Đơn đăng ký thẻ tín dụng Ngân hàng H1 để được cấp thẻ tín dụng (viết tắt Đơn mở thẻ). Ngân hàng TNHH Một Thành Viên H1 (Việt Nam) (viết tắt Ngân hàng H1) đã chấp nhận đơn mở thẻ và cấp cho ông T một thẻ tín dụng HSBC có số thẻ 4450940000093256 với hạn mức tín dụng 160.000.000 đồng. Đến ngày 27/9/2011, ông T đã tất toán toàn bộ khoản nợ của thẻ này theo thỏa thuận với Ngân hàng H1 liên quan đến việc đổi hạng dịch vụ dành cho khách hàng của Ngân hàng H1.

Ngày 01/04/2011, ông T đã ký Đơn đăng ký chuyển sang dịch vụ HSBC Premier (dành cho khách hàng hiện tại) (viết tắt Đơn chuyển đổi hạng dịch vụ) để nâng hạng dịch vụ ngân hàng cao cấp. Ngày 05/07/2011, Ngân hàng H1 đã chấp thuận Đơn chuyển đổi hạng dịch vụ và cấp cho ông T một thẻ tín dụng V (Visa Gold) có số thẻ 4450940000287718 với hạn mức tín dụng 160.000.000 đồng. Mức lãi suất và phí áp dụng khi ông T sử dụng thẻ được quy định chi tiết tại Biểu phí thẻ tín dụng, Biểu phí dịch vụ tài chính cá nhân có hiệu lực và có thể được Ngân hàng H1 sửa đổi tại từng thời điểm. Theo Đơn mở thẻ, Đơn chuyển đổi hạng dịch vụ và Bản chấp thuận sử dụng thẻ tín dụng, khoản dư nợ thẻ tín dụng hàng tháng sẽ được thanh toán cho Ngân hàng H1 theo phương thức ghi nợ vào tài khoản của ông T mở tại Ngân hàng H1 vào ngày thanh toán định kỳ hàng tháng.

Đến ngày 27/9/2011, ông T đề nghị chuyển hạng tín dụng trở lại khách hàng sử dụng dịch vụ thường niên nên Ngân hàng H1 yêu cầu ông T tất toán thẻ tín dụng số 4450940000093256 và chỉ sử dụng một thẻ tín dụng V (Visa Gold) có số tài khoản là 4450940000287718. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông T đã ký các đơn đề nghị gia hạn thẻ tín dụng vào ngày 15/5/2013 và ngày 08/01/2015 để có thể tiếp tục sử dụng số tài khoản thẻ tín dụng này.

Đến tháng 9/2012, dựa trên việc xem xét lịch sử tín dụng của ông T và quy định tại Điều 2 của Bản chấp thuận sử dụng thẻ tín dụng, Ngân hàng H1 đã chấp thuận nâng cấp thẻ tín dụng Visa Vàng số 4450940000287718 của ông T lên loại thẻ Visa B (V) với số thẻ được cập nhật mới là 4378410000046190, có hạn mức tín dụng là 260.000.000 đồng.

Tính từ ngày 05/07/2011 đến ngày 28/02/2019, tổng số dư nợ phát sinh trên thẻ tín dụng số 4378410000046190 của ông T là 4.145.179.306 đồng, trong đó:

  • Nợ gốc (gồm tất cả các giao dịch phát sinh trong kỳ) là 3.737.255.469 đồng;
  • Nợ lãi là 340.438.625 đồng;
  • Nợ phí (gồm phí rút tiền mặt, phí vượt hạn mức, phí thanh toán trễ hạn và phí thường niên) là 67.485.213 đồng.

Ông T đã thanh toán dư nợ cho Ngân hàng H1 tổng cộng 3.821.422.006 đồng, với thứ tự thanh toán được quy định tại Điều 7 của Bản chấp thuận sử dụng thẻ tín dụng, trong đó thanh toán tiền gốc là 3.483.361.271 đồng; tiền lãi (từ kỳ sao kê tháng 07/2011 đến kỳ sao kê tháng 05/2018) là 277.639.899 đồng và tiền phí (từ kỳ sao kê tháng 07/2011 đến kỳ sao kê tháng 05/2018) là 60.420.837 đồng;

Từ ngày 24/01/2019, ông T ngưng thanh toán dư nợ thẻ tín dụng cho Ngân hàng H1 và thiếu thiện chí hợp tác thanh toán nợ thẻ tín dụng, đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thanh toán quy định tại Điều 7 và Điều 8 của Bản chấp thuận sử dụng thẻ tín dụng. Đến ngày 28/02/2019, Ngân hàng H1 đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của ông T thành nợ quá hạn.

Như vậy, tổng số dư nợ của thẻ tín dụng số 4378410000046190 mà ông T có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng H1 gồm:

  • Dư nợ tiền gốc còn lại = Tổng số dư nợ gốc đã phát sinh - Dư nợ gốc đã được thanh toán = 3.737.255.469 đồng - 3.483.361.271 đồng = 253.894.198 đồng.
  • Dư nợ tiền lãi = Tiền lãi ông T chưa thanh toán từ kỳ sao kê tháng 06/2018 đến kỳ sao kê tháng 02/2019 + Tiền lãi phát sinh sau khi đã chuyển toàn bộ dư nợ tiền gốc sang nợ quá hạn (tính từ ngày 28/02/2019 cho đến khi nào ông T thanh toán hết toàn bộ dư nợ của thẻ tín dụng, với mức lãi suất nợ quá hạn là 27.8%/năm) = 62.798.726 + 387.334.032 đồng = 450.132.758 đồng;
  • Dư nợ tiền phí = Nợ phí vượt hạn mức ghi nhận từ kỳ sao kê tháng 06/2018 đến kỳ sao kê tháng 02/2019 + Nợ phí thanh toán trễ hạn ghi nhận từ kỳ sao kê tháng 07/2018 đến kỳ sao kê tháng 02/2019 + Nợ phí thường niên tính từ kỳ sao kê tháng 07/2018 đến ngày 28/02/2019 = 900.000 đồng + 4.964.376 đồng + 1.200.000 đồng = 7.064.376 đồng. (Vì sau khi đã chuyển nợ quá hạn không phát sinh thêm tiền phí trên thẻ tín dụng của ông T).

Ngân hàng H1 đã gửi thông báo cho ông T theo địa chỉ được cung cấp trong các Đơn mở thẻ và Đơn chuyển đổi hạng dịch vụ để yêu cầu trả toàn bộ tiện tích tín dụng ngân hàng, nhưng ông T không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán cho các khoản nợ của thẻ tín dụng. Do đó, Ngân hàng H1 khởi kiện yêu cầu ông T thanh toán các khoản sau cho Ngân hàng H1 gồm:

  1. Khoản nợ thẻ tín dụng bao gồm nợ gốc, nợ lãi và nợ phí tạm tính đến ngày 23/08/2024 là 711.091.332 đồng, trong đó nợ gốc 253.894.198 đồng, nợ lãi 450.132.758 đồng và nợ phí 7.064.376 đồng.
  2. Kể từ ngày 24/08/2024 cho đến khi thi hành án xong, yêu cầu ông T tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Đơn đăng ký thẻ tín dụng Ngân hàng H1, Đơn chuyển đổi hạng dịch vụ, Bản chấp thuận sử dụng thẻ tín dụng và Biểu phí có hiệu lực.

Bị đơn ông Phạm Việt T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông T vắng mặt không lý do.

* Tại phiên tòa hôm nay:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng H1 là ông N trình bày: Ngân hàng H1 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông T thanh toán cho Ngân hàng H1 khoản nợ thẻ tín dụng bao gồm nợ gốc, nợ lãi và nợ phí tạm tính đến ngày 23/08/2024 là 711.091.332 đồng, trong đó nợ gốc 253.894.198 đồng, nợ lãi 450.132.758 đồng và nợ phí 7.064.376 đồng. Ngoài ra, kể từ ngày 24/08/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông T phải tiếp tục trả lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Đơn đăng ký thẻ tín dụng Ngân hàng H1, Đơn chuyển đổi hạng dịch vụ, Bản chấp thuận sử dụng thẻ tín dụng và Biểu phí có hiệu lực.

Bị đơn ông T đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

  • Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ông T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với Ngân hàng H1, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng H1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên H1 (Việt Nam) (viết tắt Ngân hàng H1) khởi kiện yêu cầu ông Phạm Việt T thanh toán khoản nợ theo Đơn đăng ký chuyên sang dịch vụ Premier (dành cho khách hàng hiện tại) ngày 01/4/2011. Xét đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Theo nội dung Đơn đăng ký thẻ tín dụng Ngân hàng H1 ngày 23/4/2009, ông T cung cấp thông tin cá nhân: Họ và tên P2, ngày sinh 24/01/1972, số tài khoản HSBC 0021-0902-3041. Đến ngày 08/01/2015, ông T có Đơn thay đổi thông tin cá nhân, cung cấp thông tin khách hàng là Pham Viet Tuan, số khách hàng 002-109023, số CMND [...], ngày cấp 06/01/2015, nơi cấp Tây Ninh, quốc tịch Việt Nam, ký tên Phạm Việt T. Đến ngày 01/4/2011, ông T ký Đơn đăng ký chuyển sang dịch vụ P1 (dành cho khách hàng hiện tại), có thẻ thanh toán quốc tế HSBC hiện tại 0021-0902-3041, mã số khách hàng 002-109023.

Theo tài liệu do ông T cung cấp cho Ngân hàng H1 gồm có:

  • Giấy chứng minh nhân dân số [...] do Công an tỉnh T cấp ngày 06/01/2015, họ và tên Phạm Việt T, ngày sinh 24/01/1972, nơi ĐKHK thường trú khu phố B, thị trấn G, Tây Ninh. Tuy nhiên, theo nội dung Công văn số: 1648/STP-HCTP ngày 15/8/2019 của Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh thì ngày 12/01/2015, Công an tỉnh T đã hủy đăng ký thường trú đối với ông T và hủy hồ sơ chứng minh nhân dân của ông T.
  • Căn cước công dân số [...] do Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 27/4/2016, họ và tên Phạm Việt T, ngày sinh 24/01/1972, nơi thường trú 7 T, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo kết quả xác minh của Công an P3, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại 7 T, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thực tế cư trú tại địa chỉ trên. Qua thông tin thu thập hiện tạm trú chung cư P, căn hộ G Ngõ F L, phường P, quận T, Thành phố Hà Nội.

Theo kết quả xác minh của Công an phường P, quận T, Thành phố Hà Nội: Ông T có hộ khẩu thường trú tại 7 T, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện không

sinh sống tại căn hộ G P L, phường P, quận T, Thành phố Hà Nội. Căn hộ 715 Pentstudio là khách sạn cho thuê, hiện không rõ ông T ở đâu.

Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 5 và khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, xác định địa chỉ ông T7 T, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh và tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng H1 và ông T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

[1.3] Về xét xử vắng mặt đương sự:

Theo nội dung Giấy ủy quyền ngày 08/3/2024 do đại diện Ngân hàng H1 cung cấp, Ngân hàng H1 ủy quyền cho ông Nguyễn Bách K, ông Hoàng Trọng Tuấn N và bà Võ Kiều H với nội dung “Một trong các ông/bà trên hoặc cả ba có toàn quyền như H1 và đại diện cho H1 tố tụng và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn”. Tại phiên tòa hôm nay, ông K và bà H vắng mặt, ông N có mặt. Căn cứ Điều 141 Bộ luật Dân sự năm 2015, ông N có quyền đại diện cho Ngân hàng H1 tham gia tố tụng và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng H1 tại phiên tòa.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý; giấy triệu tập đến Tòa án để cung cấp lời khai; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và giấy triệu tập tham gia phiên họp; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ nhất vào ngày 31/7/2024, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai vào ngày 23/8/2024 cho ông T nhưng ông T không đến Tòa án tham gia tố tụng, không có ý kiến với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng H1, không cung cấp tài liệu chứng cứ và vắng mặt không có lý do.

Do đó, căn cứ khoản 4 Điều 91; khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông T, đồng thời giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã được Tòa án thu thập.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng H1 yêu cầu ông T thanh toán nợ gốc 253.894.198 đồng theo Đơn đăng ký chuyển sang dịch vụ HSBC Premier ngày 01/4/2011, loại thẻ Visa Bạch Kim (Visa Platinum, số thẻ 4378410000046190; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Theo nội dung Đơn đăng ký thẻ tín dụng Ngân hàng HSBC ngày 23/4/2009, ông T đề nghị Ngân hàng H1 cấp thẻ tín dụng loại thẻ Visa Vàng. Ngân hàng H1 đã chấp nhận đơn mở thẻ và cấp cho ông T một thẻ tín dụng HSBC có số thẻ 4450940000093256 với hạn mức tín dụng 160.000.000 đồng. Đến ngày 27/9/2011, ông T đã tất toán toàn bộ khoản nợ của thẻ tín dụng số 4450940000093256.

Ngày 01/04/2011, ông T đã ký Đơn đăng ký chuyển sang dịch vụ HSBC Premier (dành cho khách hàng hiện tại) để đăng ký sử dụng dịch vụ ngân hàng cao cấp H1, mã số khách hàng 002-109023. Ngày 05/07/2011, Ngân hàng H1 đã chấp thuận đơn đăng ký chuyển sang dịch vụ và cấp cho ông T một thẻ tín dụng V (Visa Gold) có số thẻ 4450940000287718 với hạn mức tín dụng 160.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông T đã ký các đơn đề nghị gia hạn thẻ tín dụng vào ngày 15/5/2013 và ngày 08/01/2015 để tiếp tục sử dụng số tài khoản thẻ tín dụng này. Đến tháng 9/2012,

Ngân hàng H1 đã nâng cấp thẻ tín dụng Visa Vàng số 4450940000287718 của ông T lên loại thẻ Visa B (V) với số thẻ được cập nhật mới là 4378410000046190, hạn mức tín dụng là 260.000.000 đồng.

Xét thấy, nội dung Đơn đăng ký chuyền sang dịch vụ HSBC Premier (dành cho khách hàng hiện tại) ngày 01/4/2011 là phù hợp điểm d khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 9 và Điều 10 Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng theo Quyết định số: 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/5/2007 của Ngân hàng N1; nên có hiệu lực pháp luật.

Theo bảng xác nhận gốc và lãi trả hàng tháng do Ngân hàng H1 cung cấp thể hiện: Từ ngày 05/07/2011 đến ngày 28/02/2019, ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 4.145.179.306 đồng, trong đó nợ gốc (gồm tất cả các giao dịch phát sinh trong kỳ) là 3.737.255.469 đồng; nợ lãi là 340.438.625 đồng; nợ phí (gồm phí rút tiền mặt, phí vượt hạn mức, phí thanh toán trễ hạn và phí thường niên) là 67.485.213 đồng. Ông T đã thanh toán cho Ngân hàng H1 tổng cộng số tiền 3.821.422.006 đồng, với thứ tự thanh toán được quy định tại Điều 7 của Bản chấp thuận sử dụng thẻ tín dụng, trong đó thanh toán tiền gốc là 3.483.361.271 đồng; tiền lãi (từ kỳ sao kê tháng 07/2011 đến kỳ sao kê tháng 05/2018) là 277.639.899 đồng và tiền phí (từ kỳ sao kê tháng 07/2011 đến kỳ sao kê tháng 05/2018) là 60.420.837 đồng. Từ ngày 24/01/2019, ông T không tiếp tục thanh toán dư nợ thẻ tín dụng cho Ngân hàng H1 là đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thanh toán quy định tại Điều 7 và Điều 8 của Bản chấp thuận sử dụng thẻ tín dụng. Đến ngày 28/02/2019, Ngân hàng H1 đã chuyển toàn bộ dư nợ của thẻ tín dụng số 4378410000046190 của ông T là 253.894.198 đồng thành nợ quá hạn. Tính đến ngày 23/8/2024, ông T còn nợ Ngân hàng H1 nợ gốc là 253.894.198 đồng.

Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, Đơn đăng ký chuyển sang dịch vụ HSBC Premier (dành cho khách hàng hiện tại) ngày 01/4/2011 và Điều 7, Điều 8 của Bản chấp thuận sử dụng thẻ tín dụng, Ngân hàng H1 yêu cầu yêu ông T thanh toán nợ gốc 253.894.198 đồng là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng H1 yêu cầu ông T thanh toán nợ lãi là 450.132.758 đồng, tạm tính đến ngày 23/8/2024 và khoản lãi phát sinh kể từ ngày 24/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất thỏa thuận tại Đơn đăng ký thẻ tín dụng Ngân hàng H1, Đơn chuyển đổi hạng dịch vụ, Bản chấp thuận sử dụng thẻ và Biểu phí có hiệu lực; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Theo trình bày của đại diện Ngân hàng H1 là ông N tại phiên tòa: Từ ngày 24/01/2019, ông T không tiếp tục thanh toán dư nợ thẻ tín dụng cho Ngân hàng H1 và đến ngày 28/02/2019, Ngân hàng H1 đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 253.894.198 đồng thành nợ quá hạn. Nợ lãi được tính = Tiền lãi ông T chưa thanh toán từ kỳ sao kê tháng 06/2018 đến kỳ sao kê tháng 02/2019 + Tiền lãi phát sinh sau khi đã chuyển toàn bộ dư nợ tiền gốc sang nợ quá hạn (tính từ ngày 28/02/2019 cho đến khi nào ông T thanh toán hết toàn bộ dư nợ của thẻ tín dụng, với mức lãi suất nợ quá hạn là 27.8%/năm). Cụ thể: Tiền lãi ông T chưa thanh toán từ kỳ sao kê tháng 06/2018 đến ngày 28/02/2019 là 62.798.726 đồng và tiền lãi tính từ ngày 28/02/2019 tạm tính đến ngày 23/8/2004 là 253.894.198 đồng x 27.8% : 365 x 2003 ngày= 387.334.032 đồng. Tổng nợ lãi là 450.132.758 đồng.

Xét, theo Điều 8 Bản chấp thuận sử dụng thẻ tín dụng H1, các bên thỏa thuận: “Tiền lãi tính theo phương pháp: Số tiền lãi ngày = (Dư nợ cuối ngày x Lãi suất tính lãi) : 365. Lãi suất tính lãi được tính theo mức lãi suất quy định hàng năm (được quy

định trong Biểu phí thẻ tín dụng H1) có hiệu lực tại thời điểm áp dụng; tiền lãi bằng số tiền lãi ngày cộng dồn hàng ngày tính từ ngày thực hiện giao dịch cho đến khi số dư nợ cuối ngày được thanh toán đầy đủ”. Theo Bảng biểu phí dịch vụ HSBC Premier (áp dụng từ ngày 15/12/2018) do Ngân hàng H1 cung cấp, lãi suất áp dụng của thẻ Visa Bạch Kim là 27.8/năm, lãi suất quá hạn = 150% x lãi suất trong hạn =150% x 27.8/năm = 41.7%/năm).

Tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng H1 là ông N xác nhận để thể hiện thiện chí của Ngân hàng H1 với khách hàng và có lợi cho khách hàng, nên Ngân hàng H1 đồng ý thu hồi nợ với mức lãi suất áp dụng với nợ gốc quá hạn chỉ 27.8%/năm. Hội đồng xét xử xét thấy Ngân hàng H1 tính mức lãi suất áp dụng với nợ gốc quá hạn là 27.8%/năm, thay vì mức lãi suất 41.7%/năm, là có lợi cho bị đơn ông T, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Căn cứ khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, thì lãi suất Ngân hàng H1 áp dụng là phù hợp quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của Ngân hàng H1, buộc ông T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng H1 nợ lãi tạm tính đến ngày 23/8/2024 là 450.132.758 đồng.

Ngoài ra, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận tại Đơn đăng ký thẻ tín dụng Ngân hàng H1, Đơn chuyển đổi hạng dịch vụ và Bản chấp thuận sử dụng thẻ và Biểu phí dịch vụ.

[2.3] Về yêu cầu của Ngân hàng H1 yêu cầu ông T thanh toán tổng các khoản nợ phí là 7.064.376 đồng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Theo bảng xác nhận gốc và lãi trả hàng tháng và trình bày của ông N tại phiên tòa: Dư nợ tiền phí mà ông T còn nợ Ngân hàng H1 = Nợ phí vượt hạn mức ghi nhận từ kỳ sao kê tháng 06/2018 đến kỳ sao kê tháng 02/2019 + Nợ phí thanh toán trễ hạn ghi nhận từ kỳ sao kê tháng 07/2018 đến kỳ sao kê tháng 02/2019 + Nợ phí thường niên từ kỳ sao kê tháng 07/2018 đến ngày 28/02/2019 = 900.000 đồng + 4.964.376 đồng + 1.200.000 đồng = 7.064.376 đồng.

Xét, theo Điều 8 Bản chấp thuận sử dụng thẻ tín dụng H1, các bên thỏa thuận: “Chủ T1 đồng ý trả cho Ngân Hàng phí ban đầu và/hoặc phí định kỳ để duy trì Thẻ. Các khoản phí này sẽ được ghi nợ vào Tài Khoản Thẻ khi đến hạn và không được hoàn trả lại. Đối với phí thường niên, đã bao gồm phí SMS thông báo các Giao Dịch Thẻ, phí này sẽ được thu hàng năm. Phí thường niên sẽ được áp dụng ngay cả khi T1 chưa được kích hoạt và được ghi nợ hàng năm vào kỳ ra Bảng Sao Kê Thẻ Tín Dụng của tháng trùng với tháng cấp thẻ”. “Trong trường hợp Chủ Thẻ sử dụng Thẻ vượt quá hạn mức tín dụng được cấp vào bất kỳ thời điểm nào trong kỳ sao kê, Ngân hàng có quyền tính phí vượt hạn mức tín dụng mà khoản phí này sẽ được ghi nợ vào Tài Khoản Thẻ vào Ngày Lập Bảng của kỳ sao kê đó và các kỳ sao kê tiếp theo nếu Tài Khoản Thẻ vẫn duy trì tình trạng vượt quá hạn mức tín dụng được cấp”. “Phí chậm Thanh Toán: Nếu chậm nhất là vào Ngày Đến Hạn T mà Chủ Thẻ không trả toàn bộ khoản Thanh Toán Tối Thiểu cho Ngân Hàng thì một khoản phí chậm thanh toán được quy định trong Biểu Phí Thẻ Tín Dụng H1 sẽ được ghi nợ vào Tài Khoản Thẻ vào Ngày Lập Bảng tiếp theo”. Theo Bảng biểu phí dịch vụ HSBC Premier (áp dụng từ ngày 15/12/2018) do Ngân hàng H1 cung cấp: Phí thường niên của thẻ Visa Bạch Kim là 1.200.000 đồng. Phí chậm

thanh toán là 4%/khoản nợ tối thiểu (tối thiểu 80.000 đồng, tối đa 630.000 đồng). Phí vượt hạn mức tín dụng của thẻ Visa Bạch Kim là 100.000 đồng.

Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Khoản 1 Điều 5 Thông tư số: 19/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định: “Chỉ TCPHT được thu phí của chủ thẻ. TCPHT thu phí theo Biểu phí dịch vụ thẻ của tổ chức mình và không được thu thêm bất kỳ loại phí nào ngoài Biểu phí đã công bố. Biểu phí dịch vụ thẻ phải nêu rõ các loại phí, mức phí áp dụng cho từng loại thẻ và dịch vụ thẻ. Biểu phí dịch vụ thẻ của TCPHT phải phù hợp với quy định của pháp luật, được niêm yết công khai và phải cung cấp cho chủ thẻ trước khi sử dụng và khi có sự thay đổi”. Do đó, Ngân hàng H1 yêu cầu ông T thanh toán tổng các khoản nợ phí là 7.064.376 đồng là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng H1, đồng thời phù hợp với ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Ngân hàng H1 được chấp nhận nên ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 32.443.653 đồng, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQG14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Ngân hàng H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, khoản 1 Điều 95, điểm d khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 141 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 9 và Điều 10 Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng theo Quyết định số: 20/2007/QĐ-NHNN15/5/2007 của Ngân hàng N1;

Căn cứ khoản 1 Điều 5 Thông tư số: 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng;

Căn cứ Điều 5 và khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQG14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018, 2020 và 2022).

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên H1 (Việt Nam).

Ông Phạm Việt T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên H1 (Việt Nam) tổng số tiền 711.091.332 (bảy trăm mười một triệu, không trăm chín mươi mốt nghìn, ba trăm ba mươi hai) đồng, trong đó:

  • Nợ gốc 253.894.198 đồng;
  • Nợ lãi 450.132.758 đồng (gồm nợ lãi tính từ tháng 06/2018 đến 28/02/2019 là 62.798.726 đồng và nợ lãi tính từ ngày 28/02/2019 tạm tính đến ngày 23/8/2024 là 387.334.032 đồng);
  • Nợ phí 7.064.376 đồng (gồm phí thường niên 1.200.000 đồng, phí chậm thanh toán (tính từ tháng 07/2018 đến ngày 28/02/2019) là 4.964.376 đồng và phí vượt hạn mức (tính từ tháng 06/2018 đến ngày 28/02/2019) là 900.000 đồng).

(Theo Đơn đăng ký chuyển sang dịch vụ HSBC Premier (dành cho khách hàng hiện tại) ngày 01/4/2011, Bản chấp thuận sử dụng thẻ tín dụng H1 và Bảng biểu phí dịch vụ HSBC Premier (áp dụng từ ngày 15/12/2018)).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Phạm Việt T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Đơn đăng ký chuyền sang dịch vụ HSBC Premier (dành cho khách hàng hiện tại) ngày 01/4/2011 và Bản chấp thuận sử dụng thẻ tín dụng H1.

Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Phạm Việt T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 32.443.653 (ba mươi hai triệu, bốn trăm bốn mươi ba nghìn, sáu trăm năm mươi ba) đồng.

Trả lại cho Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên H1 (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.094.000 (tám triệu, không trăm chín mươi bốn nghìn) đồng theo biên lai thu số 0041968 ngày 27/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018, 2020 và 2022) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu

cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018, 2020 và 2022), thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018, 2020 và 2022).

3. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM;
  • - VKSND quận Phú Nhuận, TPHCM;
  • - Chi cục THADS quận Phú Nhuận, TPHCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Văn Thị Ngọc Mỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 884/2024/DS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 884/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger