|
TÒA ÁN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 844/2024/DS-PT Ngày: 20-9-2024 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy
Các Thẩm phán:
- Bà Phạm Thị Thảo
- Bà Mai Thị Mỹ Tiên
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nghĩa - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20 tháng 8 và 20 tháng 9 năm 2024, tại Phòng xử án dân sự Toà án nhân dân Thành phố H, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 489/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”,
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 191/2024/DS-ST ngày 02/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố H bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3698/2024/QĐ-PT ngày 01 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 10991/2024/QĐ-PT ngày 25/7/2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 11092/2024/QĐPT-DS ngày 20/8/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1970. Địa chỉ: B Đường số B, Phường A, quận G, Thành phố H (có mặt);
Bị đơn: Bà Phan Thị Quang T, sinh năm 1964. Địa chỉ: 3 Đường T, tổ B, khu phố G (nay là khu phố A), phường T, Quận A, Thành phố H (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Uông Phan A, sinh năm 1984. Địa chỉ: C, đường N, Phường G, quận G, Thành phố H (vắng mặt);
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Uông Sĩ C, sinh năm 1960 (có mặt);
- Bà Uông Thị Anh T1, sinh năm 1996 (có đơn xin vắng mặt);
Cùng địa chỉ: 3 Đường T, tổ B, khu phố G (nay là khu phố A), phường T, Quận A, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 13/10/2023, các bản tự khai, các biên bản làm việc nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Bà Nguyễn Thị Thu H yêu cầu bà Nguyễn Thị L và bà Phan Thị Quang T trả lại cho bà H các phần đất đã lấn chiếm thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04646/13 ngày 19/10/2009. Theo bà H: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04646/13 ngày 19/10/2009 cấp cho ông Nguyễn Văn D. Ông D chuyển nhượng lại cho bà Nguyễn Thị N (cập nhật biến động số 2987/TX ngày 20/11/2009). Sau đó, bà N tặng cho lại bà Nguyễn Thị Thu H (cập nhật biến động số 3156/TX ngày 09/12/2009). Diện tích tổng cộng là 169,5m², thuộc thửa đất số 229, tờ bản đồ số 36, trong đó có 148,6m² đất ở và 20,9m² đất trồng lúa. Bà H xin Giấy phép xây dựng số 4114/GP-UBND ngày 08/10/2012, Chứng nhận số nhà số 778/GCN-UBND-ĐT ngày 04/3/2013, cấp số nhà B, đường T, Khu phố G, phường T, Quận A theo Giấy phép xây dựng.
Bà H khởi kiện yêu cầu những người đang lấn chiếm đất của bà phải trả lại các phần đất cụ thể gồm:
- Yêu cầu bà Nguyễn Thị L trả cho bà phần đất diện tích 13,2m² tương ứng với các vị trí số (14), (15) và (16) của Bản đồ Hiện trạng vị trí – xác định ranh số hợp đồng 43907/ĐĐBĐ-VPQ12 do Trung tâm Đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 21/8/2015;
- Yêu cầu bà Phan Thị Quang T trả cho bà phần đất diện tích 12,1m² tương ứng vị trí số (17) của bản đồ nêu trên.
Bà H yêu cầu bà L và bà T trả cho bà đúng hiện trạng đất đã lấn chiếm. Bà H không có ý kiến tranh chấp gì về công trình xây dựng có trên các phần đất tranh chấp trong vụ án. Bà H cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì về việc xem xét lại tính hợp pháp của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04646/13 ngày 19/10/2009, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH01397 ngày 01/11/2010 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04640/13 ngày 19/10/2009.
Sau đó, bà H có đơn rút phần yêu cầu khởi kiện đối với bà L về việc yêu cầu bà L trả cho bà phần đất diện tích 13,2m² tương ứng với các vị trí số (14), (15) và (16) của Bản đồ Hiện trạng vị trí – xác định ranh số hợp đồng 43907/ĐĐBĐ-VPQ12 do Trung tâm Đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 21/8/2015. Tòa án đã có Quyết định đình chỉ giải quyết một phần vụ án dân sự số: 03/2023/QÐST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2023 (Quyết định này đã có hiệu lực pháp luật). Ngoài ra, bà H không có ý kiến, yêu cầu gì thêm.
Bị đơn bà Phan Thị Quang T trình bày:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH01397 ngày 01/11/2010 được Ủy ban nhân dân Quận A1 cấp cho bà Phan Thị Quang T. Diện tích đất tổng cộng 212,6m², thuộc thửa đất số 821, tờ bản đồ số 36, trong đó có 132,8m² đất ở và 79,8m² đất trồng lúa. Bà T xin Giấy phép xây dựng số 127/GP-UBND ngày 12/01/2011 và có Biên bản hoàn công ngày 07/6/2011, Thông báo tạm cấp số nhà số 307/TB-UBND ngày 23/02/2011, cấp số nhà C, đường T, Khu phố B, phường T, Quận A theo Giấy phép xây dựng.
Bà T vẫn giữ nguyên ý kiến xác định bà không lấn chiếm đất của bà Nguyễn Thị Thu H, nhà bà xây theo đúng diện tích được công nhận trong giấy chứng nhận. Bà đã được cán bộ Ủy ban nhân dân phường T, Quận A giải thích là cả khu đất mọi người đang ở bị lệch ranh. Do đó bà không đồng ý với yêu cầu trả lại đất của bà H. Bà không có ý kiến hay yêu cầu gì về việc xem xét lại tính hợp pháp của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04646/13 ngày 19/10/2009, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH01397 ngày 01/11/2010 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04640/13 ngày 19/10/2009.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Uông Sĩ C trình bày: Ông là chồng của bà Phan Thị Quang T. Gia đình ông gồm bà T, ông và bà Uông Thị Anh T1 đang ở chung nhà. Ông xác định các phần nhà đất của mọi người bị lệch ranh, việc này do cán bộ phường T, Quận A giải thích cho cả nguyên đơn và bị đơn, vì vậy thực tế ông và bà T không lấn đất của bà H. Ông không có ý kiến hay yêu cầu gì về việc xem xét lại tính hợp pháp của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04646/13 ngày 19/10/2009, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH01397 ngày 01/11/2010 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04640/13 ngày 19/10/2009 vì việc cấp giấy chứng nhận này là của nhà nước.
Bà Uông Thị Anh T1 Trình bày: Bà đang ở chung nhà với bà T, ông C, bà có ý kiến như bà T, ông C đã trình bày.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà Phan Thị Quang T trả cho bà phần đất diện tích 12,1m² tương ứng vị trí số (17) của Bản đồ Hiện trạng vị trí – xác định ranh số hợp đồng 43907/ĐĐBĐ-VPQ12 do Trung tâm Đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 21/8/2015. Bà H không có ý kiến tranh chấp gì về các phần công trình xây dựng có trên các phần đất tranh chấp trong vụ án. Bà H cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì về việc xem xét lại tính hợp pháp của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04646/13 ngày 19/10/2009, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH01397 ngày 01/11/2010 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04640/13 ngày 19/10/2009.
Bị đơn bà Phan Thị Quang T vẫn giữ nguyên ý kiến, xác định bà không lấn chiếm đất của bà Nguyễn Thị Thu H, nhà bà xây theo đúng diện tích được công nhận trong giấy chứng nhận. Bà không có ý kiến hay yêu cầu gì về việc xem xét lại tính hợp pháp của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04646/13 ngày 19/10/2009, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH01397 ngày 01/11/2010 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04640/13 ngày 19/10/2009.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Uông Sĩ C giữ nguyên ý kiến là thực tế ông và bà T không lấn đất của bà H. Ông không có ý kiến hay yêu cầu gì về việc xem xét lại tính hợp pháp của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04646/13 ngày 19/10/2009, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH01397 ngày 01/11/2010 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04640/13 ngày 19/10/2009 vì việc cấp giấy chứng nhận này là của nhà nước.
Bà Uông Thị Anh T1 có ý kiến như bà T, ông C đã trình bày.
Tại Bản án sơ thẩm số 191/2024/DS-ST ngày 02/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố H đã tuyên:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu H.
- Án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Phan Thị Quang T, ông Uông Sĩ C, bà Uông Thị Anh T1 phải cùng nộp. Bà Nguyễn Thị Thu H không phải chịu án phí sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị Thu H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 5.000.000 (năm triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2012/00659 ngày 01 tháng 11 năm 2013 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận A, Thành phố H.
Buộc bà Phan Thị Quang T, ông Uông Sĩ C, bà Uông Thị Anh T1 phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Thu H phần đất diện tích 12,1m² tương ứng vị trí số (17) của Bản đồ Hiện trạng vị trí – xác định ranh số hợp đồng 43907/ĐĐBĐ_VPQ12 do Trung tâm Đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 21/8/2015, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04646/13 ngày 19/10/2009 (cập nhật biến động ngày 09/12/2009) của bà Nguyễn Thị Thu H theo đúng hiện trạng Giấy chứng nhận được cấp.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Ngoài bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của đương sự
Ngày 16/5/2024, bị đơn bà Phan Thị Quang T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Uông Thị Anh T1 có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 191/2024/DS-ST ngày 02/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố H với lý do việc Tòa án nhân dân Quận A chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bà. Yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn bà Phan Thị Quang T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Uông Thị Anh T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Uông Sĩ C có cùng ý kiến với bà T và bà T1
Nguyên đơn đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị Quang T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Uông Thị Anh T1, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận A.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm cho đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tiến hành phiên tòa đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình.
- Về nội dung: Xét thấy nội dung kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị Quang T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Uông Thị Anh T1 không có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, Tòa cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà T, ông C phải giao trả phần diện tích đất 12,1m² cho nguyên đơn là có căn cứ pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận A.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị Quang T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Uông Thị Anh T1 còn trong thời hạn kháng cáo theo qui định tại Điều 273 và Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên kháng cáo hợp lệ và được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa ngày 20/8/2024 bà H, bà T, ông C có mặt, bà T1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa ngày 20/9/2024 bà H, ông C có mặt, bà T1 có đơn xin xét xử vắng mặt, bà T vắng mặt không rõ lý do. Tòa án căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vụ án.
[2] Về nội dung kháng cáo: Bị đơn bà Phan Thị Quang T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Uông Thị Anh T1 đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xét thấy, theo tài liệu, chứng cứ do Chi nhánh Văn phòng Đ cung cấp, có căn cứ xác định:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H sử dụng phần đất có diện tích 169,5m², thuộc thửa đất số 229, tờ bản đồ số 36, trong đó có 148,6m² đất ở và 20,9m² đất trồng lúa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04646/13 ngày 19/10/2009 cấp cho ông Nguyễn Văn D, cập nhật biến động số 2987/TX ngày 20/11/2009 cho bà Nguyễn Thị N và cập nhật biến động số 3156/TX ngày 09/12/2009 cho bà Nguyễn Thị Thu H (sau đây gọi là Giấy chứng nhận H04646/13) (từ bút lục 205 đến 238)
Bị đơn bà Phan Thị Quang T sử dụng phần đất có diện tích 212,6m², thuộc thửa đất số 821, tờ bản đồ số 36, trong đó có 132,8m² đất ở và 79,8m² đất trồng lúa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH01397 ngày 01/11/2010 (sau đây gọi là Giấy chứng nhận CH01397) (từ bút lục 251 đến 258).
Quá trình giải quyết vụ án, các bên thừa nhận tính hợp pháp của Giấy chứng nhận H04646/13 và Giấy chứng nhận CH01397 không khiếu nại, không khởi kiện yêu cầu xem xét tính hợp pháp của các Giấy chứng nhận này, không có quyết định có hiệu lực nào của cơ quan thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ các Giấy chứng nhận này. Vì vậy, các bên được quyền và có nghĩa vụ sử dụng đất theo diện tích, ranh giới đã được công nhận tại Giấy chứng nhận theo quy định tại Điều 166 và Điều 170 Luật Đất đai năm 2013, các bên không được lấn chiếm đất liền kề để sử dụng ngoài diện tích, vị trí, ranh giới đất đã được cấp Giấy chứng nhận.
Đối chiếu Giấy chứng nhận H04646/13 và Giấy chứng nhận CH01397 với Bản đồ Hiện trạng vị trí – xác định ranh số hợp đồng 43907/ĐĐBĐ_VPQ12 do Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 21/8/2015 (bút lục 194) thì phần đất hai bên tranh chấp có diện tích 12,1m² tại vị trí số (17) thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04646/13 cấp cho bà H, hiện trạng bên trên phần đất này là tường gạch, mái tôn do phía bị đơn bà T đang sử dụng.
Bà T cho rằng khi xây dựng bà đã xin Giấy phép xây dựng số 127/GP-UBND ngày 12/01/2011 có Biên bản hoàn công ngày 07/6/2011, Thông báo tạm cấp số nhà số 307/TB-UBND ngày 23/02/2011, cấp số nhà C, đường T, Khu phố B, phường T, Quận A theo Giấy phép xây dựng nhưng đến nay phần nhà đã xây theo Giấy phép xây dựng nêu trên chưa thực hiện cập nhật lên Giấy chứng nhận Giấy chứng nhận CH01397.
Ngoài ra, tại Quyết định số 2538/QĐ-KPHQ ngày 20/5/2022 của Ủy ban nhân dân Quận A1 buộc bà Phan Thị Quang T tháo dỡ phần công trình xây dựng sai nội dung giấy phép do xây tăng diện tích được cấp phép (bút lục 371). Theo Bản đồ Hiện trạng vị trí – xác định ranh số hợp đồng 51125/ĐĐBĐ_VPQ12 do Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 08/3/2022 kèm theo Quyết định số 2538/QĐ-KPHQ ngày 20/5/2022 của Ủy ban nhân dân Quận A1 (bút lục 210) có một phần diện tích bà T xây sai nội dung giấy phép xây dựng thể hiện tại vị trí số (29), diện tích 12,1m² thuộc Giấy chứng nhận H04646/13 cấp cho bà H.
Điều 185 Bộ luật Dân sự quy định: Trường hợp việc chiếm hữu bị người khác xâm phạm thì người chiếm hữu có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi, khôi phục tình trạng ban đầu, trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi, khôi phục tình trạng ban đầu, trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông C, bà T1 phải trả lại cho bà H phần đất diện tích 12,1m² tương ứng vị trí số (17) tại Bản đồ Hiện trạng vị trí – xác định ranh số hợp đồng 43907/ĐĐBĐ_VPQ12 do Trung tâm Đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 21/8/2015, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04646/13 của bà H là đúng quy định.
Tại cấp phúc thẩm, bà T, bà T1 cung cấp một số tài liệu, trong đó có đơn khởi kiện vụ án hành chính. Do không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Ủy ban nhân dân Quận A1, bà T đã khởi kiện quyết định hành chính áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và cưỡng chế tại Tòa án nhân dân Thành phố H. Bà T, ông C trình bày Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vụ kiện tranh chấp quyền sử dụng đất khi chưa có kết quả giải quyết vụ án hành chính liên quan đến phần diện tích đất tranh chấp này là vi phạm tố tụng. Xét, trong quá trình Tòa án nhân dân Thành phố H đang giải quyết vụ án hành chính nêu trên thì Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết vụ án này là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Tuy nhiên, ngày 10/7/2024 Tòa án nhân dân Thành phố H đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 276/2024/QÐST-HC vì lý do bà T, ông C tự nguyện rút đơn khởi kiện. Như vậy, tính đến thời điểm xét xử phúc thẩm vụ án này thì vụ kiện hành chính đã bị đình chỉ nên việc vi phạm thủ tục tố tụng của Tòa cấp sơ thẩm không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà T, ông C. Do đó, Tòa cấp phúc thẩm vẫn giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Xét nội dung kháng cáo của bà T, bà T1
Xét thấy, bà T nhận chuyển nhượng phần diện tích đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01397 ngày 01/11/2010 và đã xin giấy phép xây dựng theo đúng quy định pháp luật, thậm chí đã được lập biên bản kiểm tra hoàn công ngày 07/6/2011, việc này chứng minh bà T, ông C không lấn chiếm phần diện tích 12,1m² đất của bà H. Việc lệch ranh sử dụng đất này, theo Công văn số 5135/UBND-ĐT ngày 03/8/2022 của Ủy ban nhân dân Quận A1 là do “... sau khi tiến hành kiểm tra bản kê tọa độ góc ranh, nhận thấy các giấy chứng nhận không có dấu hiệu trùng lấn ranh, việc trùng lấn ranh xảy ra ngoài thực địa, nguyên nhân là khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất các hộ dân tự tiến hành bàn giao ranh mốc ngoài thực địa, rào ranh theo ranh mốc được giao của chủ đất, không thuê đơn vị có chức năng đo đạc, dẫn đến sai lệch ranh thực tế so với ranh theo giấy chứng nhận được cấp và các công trình được xây dựng theo ranh thực tế nên có sự sai lệch vị trí so với ranh theo giấy chứng nhận”
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn cũng khai nhận khi nguyên đơn xây dựng nhà thì đã thấy nhà của bị đơn xây dựng xong nên nguyên đơn không có ý kiến gì cũng không đo vẽ lại, nguyên đơn đã xây dựng nhà trên phần đất trống của mình, chỉ đến khi không hoàn công được mới phát hiện bị đơn xây dựng trên phần diện tích 12,1m² được công nhận trong giấy chứng nhận của nguyên đơn bị đơn cũng không biết, thể hiện qua việc bị đơn đã xin giấy phép xây dựng và đã được kiểm tra hoàn công, nguyên nhân dẫn đến việc lệch ranh, sai vị trí đã được nêu tại Công văn số 5135/UBND-ĐT ngày 03/8/2022 của Ủy ban nhân dân Quận A1 là đúng. Như vậy, việc lệch ranh này không phải do ý chí của bị đơn cố ý lấn chiếm mà do khách quan trong quá trình chuyển giao quyền sử dụng đất từ chủ đất cũ là ông Nguyễn Văn D cho phía những người nhận chuyển nhượng đất của ông D trong đó có bà H, bà T. Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ do các bên đương sự cung cấp cho thấy sự lệch ranh này không chỉ riêng phần đất của bà T, bà H mà là sự lệch ranh liên hoàn cả chiều ngang và chiều dọc của các hộ liền kề cùng nhận chuyển nhượng đất từ ông Nguyễn Văn D.
Xét thấy, việc Tòa cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà T, ông C phải giao trả phần diện tích đất 12,1m² cho nguyên đơn là có căn cứ pháp luật. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H là có căn cứ. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, phía bà T, ông C đã xây dựng nhà ở ổn định từ năm 2011 đến nay, phía bà H cũng đã xây dựng nhà, nên để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong trường hợp này cần buộc phía bà T, ông C phải trả cho bà H giá trị đất bằng tiền tương ứng với phần diện tích đất bà T, ông C phải trả cho bà H. Căn cứ Biên bản định giá tài sản ngày 21/6/2023 thì giá trị đất là 20.000.000 đồng/m². Như vậy, bà T ông C phải trả cho bà H giá trị đất với số tiền là 242.000.000 đồng (hai trăm bốn mươi hai triệu đồng)
Xét thấy, do phần đất thực tế sử dụng của các bên đương sự tranh chấp đều bị lệch ranh như phân tích nêu trên, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình các bên đương sự được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cập nhật biến động điều chỉnh trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phù hợp với thực tế sử dụng theo quy định của pháp luật.
Từ phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị Quang T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Uông Thị Anh T1. Hội đồng xét xử sửa bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận A.
Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Thu H không phải chịu án phí sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị Thu H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 5.000.000 (năm triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2012/00659 ngày 01 tháng 11 năm 2013 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận A, Thành phố H.
Bà T, ông C, bà T1 cùng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn, án phí dân sự sơ thẩm là 12.100.000 đồng. Ông C là người cao tuổi được miễn án phí dân sự theo quy định.
[3]. Án phí dân sự phúc thẩm:
Do sửa bản án sơ thẩm nên bị đơn bà Phan Thị Quang T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Uông Thị Anh T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
H1 lại cho bà Phan Thị Quang T số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0022455 ngày 16/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận A, Thành phố H.
H1 lại cho bà Uông Thị Anh T1 số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0022514 ngày 22/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận A, Thành phố H.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 38, Điều 148, khoản 1 Điều 228, Điều 298, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 2, Điều 4 Luật người cao tuổi;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị Quang T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Uông Thị Anh T1 về yêu cầu sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 191/2024/DS-ST ngày 02/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố H.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu H.
Buộc bà Phan Thị Quang T, ông Uông Sĩ C, bà Uông Thị Anh T1 phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Thu H 242.000.000 đồng (hai trăm bốn mươi hai triệu đồng) giá trị quyền sử dụng đất có diện tích 12,1m² tương ứng vị trí số (17) của Bản đồ Hiện trạng vị trí – xác định ranh số hợp đồng 43907/ĐĐBĐ_VPQ12 do Trung tâm Đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 21/8/2015, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04646/13 ngày 19/10/2009 (cập nhật biến động ngày 09/12/2009) của bà Nguyễn Thị Thu H
Các bên đương sự được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục cập nhật biến động điều chỉnh trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phù hợp với thực tế sử dụng theo quy định của pháp luật
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Phan Thị Quang T, bà Uông Thị Anh T1 cùng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 8.066.666 đồng (tám triệu không trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu đồng).
Ông C là người cao tuổi được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Bà Nguyễn Thị Thu H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho bà H số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 5.000.000 (năm triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2012/00659 ngày 01 tháng 11 năm 2013 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận A, Thành phố H.
[3]. Án phí dân sự phúc thẩm:
H1 lại cho bà Phan Thị Quang T số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0022455 ngày 16/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận A, Thành phố H.
H1 lại cho bà Uông Thị Anh T1 số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0022514 ngày 22/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận A, Thành phố H.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thủy |
Bản án số 844/2024/DS-PT ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 844/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 191/2024/DS-ST ngày 02/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố H
