Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 843/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 11/4/2025

V/v Ly hôn


TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Nguyệt

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Tiến Dũng
  2. Bà Nguyễn Thị Hương

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Lê Na – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1981/2024/HNST ngày 01 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1899/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị N, sinh năm 1981.

Địa chỉ: STT A hẻm B tổ D, khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).

Bị đơn: Ông Ngô Tôn Q, sinh năm: 1974.

Địa chỉ: STT A hẻm B tổ D, khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)


NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Đoàn Thị N trình bày: bà Đoàn Thị N và ông Ngô Tôn Q đã chung sống với nhau từ năm 2004, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Cuộc sống chung hạnh phúc được thời gian đầu sau đó đến tháng năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, từ đó cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc. Hai bên đã ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay. Bà và ông Q đã ngồi lại nói chuyện nhưng tình hình vẫn không thay đổi. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Ngô Tôn Q.

Về con chung: Có 02 người con chung tên Ngô Đông T, sinh ngày 03/11/2004 và Ngô Đông S, sinh ngày 19/8/2008. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng người con chung tên Ngô Đông S, sinh ngày 19/8/2008 và tự nguyện không yêu cầu ông Q phải cấp dưỡng nuôi con.

Riêng người con chung tên Ngô Đông T, sinh ngày 03/11/2004 đã trưởng thành.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

* Bị đơn ông Ngô Tôn Q vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn bà Đoàn Thị N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn ông Ngô Tôn Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về nội dung: Bà Đoàn Thị N và ông Ngô Tôn Q tự nguyện kết hôn và chung sống với nhau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 124 ngày 06/9/2004 do Ủy ban nhân dân Phường G1, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cấp, do đó hôn nhân của ông bà là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Về yêu cầu xin ly hôn của bà N, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại tòa, bà N thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi vã, từ đó cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng là có và hiện nay các bên vẫn còn mâu thuẫn, chứng tỏ ông bà không có khả năng giải quyết những mâu thuẫn phát sinh trong thực tế cuộc sống vợ chồng. ông Ngô Tôn Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến Tòa để giải quyết vụ án nhưng ông Q vắng mặt không có lý do. Điều này cho thấy ông Q không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình, không chú tâm đến các yêu cầu của bà N và cũng không có ý thức tôn trọng pháp luật. Căn cứ Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Xét thấy ông bà đã ly thân với nhau từ cuối năm 2023 cho đến nay, mâu thuẫn giữa các bên là không thể giải quyết, sự tin tưởng lẫn nhau trong cuộc sống vợ chồng cũng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng đoàn tụ không mang lại hạnh phúc, bà N cương quyết không đoàn tụ với ông Q vì tình cảm không còn, vì vậy căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của bà N về việc xin ly hôn với ông Q.

Về con chung: Bà Đoàn Thị N xác định có 02 người con chung là Ngô Đông T, sinh ngày 03/11/2004 và Ngô Đông S, sinh ngày 19/8/2008. Bà Đoàn Thị N yêu cầu quyền chăm sóc và nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Ngô Tôn Q cấp dưỡng. Hội đồng xét xử nhận thấy; hiện nay 02 người con chung đang do bà N trực tiếp nuôi dưỡng, trong đó người con chung tên Ngô Đông S có nguyện vọng theo mẹ là bà Đoàn Thị N. Vì vậy căn cứ vào Điều 58, Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Ngô Đông S, sinh ngày 19/8/2008 của bà N là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng người con chung tên Ngô Đông T, sinh ngày 03/11/2004 đã trưởng thành. Ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông Q phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Đương sự xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, đúng quy định.

Về án phí: Căn cứ vào Luật phí và lệ phí năm 2015. Bà N phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,


QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 2 Điều 21, Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 244, Khoản 2 Điều 269, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị N.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đoàn Thị N được ly hôn với ông Ngô Tôn Q.
    2. Về con chung: Có 02 người con chung tên Ngô Đông T, sinh ngày 03/11/2004 và Ngô Đông S, sinh ngày 19/8/2008.

      Giao người con chung tên Ngô Đông S, sinh ngày 19/8/2008 cho bà Đoàn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông Q phải cấp dưỡng nuôi con.

      Riêng người con chung tên Ngô Đông T, sinh ngày 03/11/2004 đã trưởng thành.

      Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

      Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.

    3. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    4. Về nợ chung: Đương sự xác định không có.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đoàn Thị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà N đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0043290 ngày 25/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà N đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  3. Quyền kháng cáo: Án sơ thẩm xét xử công khai các đương sự có mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


Nơi nhận:

  • - Toà án ND TP.HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP.Thủ Đức;
  • - Cơ quan đăng ký kết hôn;
  • - Các bên đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trần Thị Ánh Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 843/2025/HNGĐ-ST ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 843/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu bà Nhẫn được ly hôn với ông Quyền
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger