TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 842/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 02/12/2025
V/v:“Ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi
- Bà Nguyễn Thị Luận
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Bạch Lê Dũng - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Cù Ngô Ngọc Thịnh – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình về “Ly hôn, nuôi con” thụ lý số: 458/2025/TLST–HNGĐ ngày 06/10/2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 67/2025/QĐHPT-ST ngày 26/11/2025 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1978 .
- Nơi đăng ký HKTT: thôn C, phường C, Thành phố Hà Nội.
- * Bị đơn: Anh Lê Tiến T1, sinh năm 1977.
- Nơi đăng ký HKTT: thôn C, phường C, Thành phố Hà Nội .
Tại phiên tòa: Chị Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Lê Tiến T1 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn - Chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh kết H với anh Lê Tiến T1 năm 2000, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nay là phường L, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn C, xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội nay là thôn C, phường C, Thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống, giữa chị T và anh T1 có nhiều bất đồng về quan điểm sống nên không hòa hợp và thường xuyên mâu thuẫn cãi nhau. Chị T và anh T1 đã ly thân từ đầu năm 2025 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị T đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 6 – Thành phố Hà Nội giải quyết cho chị T được ly hôn với anh T1 để cả hai ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Tiến T1 có 02 con chung là: Lê Tiến T2, sinh ngày 30/11/2002 và Lê Gia L, sinh ngày 01/07/2009. Con chung là Lê Tiến T2 đã trưởng thành không bị nhược điểm về thể chất và tâm thần nên không yêu cầu xem xét. Con chung Lê Gia L hiện đang ở cùng với anh Lê Tiến T1. Ly hôn chị T có nguyện vọng nôi con chung là Lê Gia L vì cháu là cháu gái và hiện nay cháu Lê Gia L hàng ngày đi học tại trường ở H và cháu cũng có nguyện vọng được ở cùng với chị T. Nuôi con, chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Tiến T1 không có, tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn – Anh Lê Tiến T1 vắng mặt nên không ghi được ý kiến trình bày:
* Tại biên bản ghi lời khai của ông Lê Tuấn Q (bố của anh Lê Tiến T1) ông Lê Tiến Q1 trình bày:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh kết H với anh Lê Tiến T1 năm 2000, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai ngày 09/06/2000. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại thôn thôn C, phường C, Thành phố Hà Nội.
Trong quá trình chung sống, giữa anh Lê Tiến T1 và chị Nguyễn Thị T có bất đồng về quan điểm sống nên không hòa hợp và thường xuyên mâu thuẫn cãi nhau. Chị Nguyễn Thị T đã ly thân với anh Lê Tiến T1 từ tháng 8/2025 cho đến nay. Gia đình vẫn muốn anh Lê Tiến T1 và chị Nguyễn Thị T được đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy các con. Nếu chị Nguyễn Thị T cương quyết ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Tiến T1 có 02 con chung là: Lê Tiến T2, sinh ngày 30/11/2002 và Lê Gia L, sinh ngày 01/07/2009. Con chung là Lê Tiến T2 đã trưởng thành không bị nhược điểm về thể chất và tâm thần. Con chung Lê Gia L hiện đang ở cùng với anh Lê Tiến T1. Nếu anh Lê Tiến T1 và chị Lê Gia L ly hôn, gia đình ông Q1 có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Lê Gia L mà không yêu cầu chị T cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh Lê Tiến T1 và chị Nguyễn Thị T không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại đơn trình bày nguyện vọng của con chung: Cháu Lê Gia L có nguyện vọng được chị Nguyễn Thị T nuôi dưỡng vì sẽ thuận lợi hơn trong sinh hoạt của cháu.
Tại phiên tòa: Chị Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Lê Tiến T1 vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa có quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; chị Nguyễn Thị Thanh chấp H1 đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án; anh Lê Tiến T1 chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T và cho chị T được ly hôn anh Lê Tiến T1; về con chung: Đề nghị giao con chung là Lê Gia L cho chị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành theo như nguyện vọng của cháu L; tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho anh Lê Tiến T1; về tài sản chung, công sức, công nợ: Không xem xét; về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Tiến T1 đều có hộ khẩu thường trú tại: thôn C, phường C, Thành phố Hà Nội. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, việc giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Thành phố Hà Nội.
[1.2] Về sự vắng mặt của chị Nguyễn Thị T và anh Lê Tiến T1: Chị Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Lê Tiến T1 vắng mặt không có lý do. Đây là phiên tòa lần thứ 02. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị T và anh Lê Tiến T1.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Tiến T1 kết hôn năm 2000, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nay là phường L, tỉnh Đồng Nai nên hôn nhân giữa chị T và anh T1 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị T cho rằng vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị T là do vợ chồng không có tiếng nói chung và vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2025 cho đến nay. Nay chị T xin ly hôn anh T1 để ổn định cuộc sống.
Xét thấy: Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Tiến T1 đã ly thân được một thời gian, trong thời gian ly thân cả hai (chị T, anh T1) đều không có giải pháp cải thiện tình cảm vợ chồng. Bố đẻ anh T1 là ông Lê Tuấn Q cũng xác nhận vợ chồng chị T, anh T1 có mâu thuẫn và không hợp nhau. Nay chị T cương quyết xin ly hôn với anh T1 nên cần xác định mâu thuẫn giữa chị T và anh T1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị T và cho chị T được ly hôn anh T1 để cả hai ổn định cuộc sống.
[2.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Tiến T1 có 02 con chung là: Lê Tiến T2, sinh ngày 30/11/2002 và Lê Gia L, sinh ngày 01/07/2009. Con chung là Lê Tiến T2 đã trưởng thành không bị nhược điểm về thể chất và tâm thần, hiện cả 02 con chung đang ở cùng với anh Lê Tiến T1.
Ly hôn, chị Nguyễn Thị T có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung là Lê Gia L. Xét thấy: Con chung là Lê Tiến T2 đã trưởng thành không bị nhược điểm về thể chất và tâm thần. Con chung Lê Gia L hiện đang ở cùng với anh Lê Tiến T1. Tuy nhiên, con chung là Lê Gia L có nguyện vọng được ở cùng với chị T. Xét con chung là Lê Gia L là cháu gái, cần có sự chăm sóc chỉ bảo của người mẹ khi đến tuổi trưởng thành và cháu L có nguyện vọng được ở cùng chị T nên cần giao con chung là Lê Gia L, sinh ngày 01/07/2009 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xét đây là sự tự nguyện của chị T nên cần chấp nhận và ghi nhận sự tự nguyện của chị T. Tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho anh T1 cho đến khi các bên có yêu cầu.
[2.4] Về tài sản chung, công sức, công nợ: Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Tiến T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 227, 228, 266, 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Q2 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
[1]. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T và cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Lê Tiến T1.
[2]. Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Tiến T1 có 02 con chung là: Lê Tiến T2, sinh ngày 30/11/2002 và Lê Gia L, sinh ngày 01/07/2009.
Con chung là Lê Tiến T2 đã trưởng thành không bị nhược điểm về thể chất và tâm thần nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Giao con chung là Lê Gia L, sinh ngày 01/07/2009 cho chị Nguyễn Thị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.
Anh Lê Tiến T1 có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
[3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị T không yêu cầu anh Lê Tiến T1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho anh Lê Tiến T1 cho đến khi các bên có yêu cầu.
[4]. Về tài sản chung: Không xem xét.
[5]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Chị Nguyễn Thị T đã nộp 300.000 đồng (theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí ký hiệu: BLTU/25E số: 0010235 ngày 06 tháng 10 năm 2025) tại Phòng thi hành án Dân sự khu vực 6 – Thành phố Hà Nội.
[6]. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, chị Nguyễn Thị T và anh Lê Tiến T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ./.
Nơi nhận:
- - TAND Tp Hà Nội;
- - VKSND Khu vực 6 – TP Hà Nội;
- - CC.THADS Khu vực 6 – TP Hà Nội;
- - UBND phường Long Hưng, tỉnh Đồng Nai (Số:61/2000);
- - Các đương sự;
- - Lưu HSVA/VP.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Nguyễn Hoàng Long
Bản án số 842/2025/HNGĐ-ST ngày 02/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 842/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên nguyên đơn và bị đơn ly hôn
