Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 841/2024/HS-PT

Ngày: 16 - 9 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Toàn
Các Thẩm phán: Bà Lê Thúy Cầu
Ông Nguyễn Văn Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Đoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 695/2024/TLPT- HS ngày 31/7/2024 đối với các bị cáo Đinh Thanh T, Thiều Văn L do có kháng cáo của các bị cáo Đinh Thanh T, Thiều Văn L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 18/6/2024 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Đinh Thanh T (Bờm, B bò); sinh ngày 09/9/1991, tại huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nơi ĐKHK thường trú: tổ B, thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: làm thuê; họ tên cha: Đinh Thanh T1, họ tên mẹ: Nguyễn Thị S; vợ: Nguyễn Thị H (đã ly hôn) và có 01 con, sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2023 đến nay tại Trại Tam giam Công an A (có mặt).

2. Thiều Văn L; sinh ngày: 27/10/1996, tại huyện K, tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: thôn C, xã S, huyện K, tỉnh Gia Lai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Làm thuê; họ tên cha: Thiều Văn B1, họ tên mẹ: Văn Thị L1; bị cáo chưa có vợ con.

Quá trình nhân thân: Từ nhỏ sống chung với gia đình tại Thôn C, xã S, huyện K, tỉnh Gia Lai. Năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai tuyên phạt 04 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong ngày 17/5/2018.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2023 đến nay tại Trại Tạm giam Công an tỉnh A (có mặt).

- Người bào chữa chỉ định cho các bị cáo Đinh Thanh T, Thiều Văn L: Luật sư Lê Thị Ánh T2, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).

(Ngoài ra trong vụ án còn có những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 03/3/2023, sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân phát hiện khu vực tổ A, ấp A, xã K, huyện A có túi xách và nhiều gói nghi có chứa ma túy, lực lượng Công an huyện A đến hiện trường thì phát hiện 01 túi xách và 09 gói ma túy (06 gói dán Decal màu vàng, 01 gói dán giấy màu xanh, 02 gói bọc nylon trong suốt) nằm rải rác ở phần đường bên phải Quốc lộ I theo hướng từ xã K đi thị trấn L. Tiếp tục mở rộng tìm kiếm khoảng 700m đến khu vực tổ A, ấp A, xã K, huyện A, lực lượng Công an tiếp tục phát hiện 01 túi xách và 08 gói ma túy (07 gói dán Decal màu vàng, 01 gói dán Decal màu vàng bị rách, bên trong có bọc nylon trong suốt). Trong quá trình tìm kiếm, đến khoảng 23 giờ cùng ngày, lực lượng Công an huyện A phát hiện Thiều Văn L và Đinh Thanh T là người ngoài địa phương và có biểu hiện nghi vấn đang đi bộ hướng từ thị trấn L đến xã K, nên mời về trụ sở Công an xã K làm việc. Tại Cơ quan Công an, cả hai thừa nhận đã cùng S1 (không rõ nhân thân lai lịch, người Việt Nam sinh sống tại Campuchia) thực hiện hành vi vận chuyển số ma túy nêu trên từ Campuchia về Việt Nam và T là người thuê Huỳnh Văn P điều khiển xe ôtô biển số 67A-112.32 (do P thuê của Lê Công B2), để vận chuyển ma túy từ huyện A đến Thành phố Hồ Chí Minh giao cho người mua, nhưng khi xe chạy được một đoạn thì nghi ngờ có lực lượng Công an truy đuổi nên cả nhóm đã ném bỏ 02 túi xách đựng ma túy trên đường, rồi cả 03 xuống xe bỏ trốn. Lực lượng Công an huyện A đến nhà Lê Công B2 kiểm tra phát hiện xe ôtô biển số 67A-112.32 đang đậu trong sân nhà, trên xe có 01 túi xách màu hồng, bên trong có 03 hộp hình chữ nhật chứa chất lỏng (02 hộp dán Decal màu vàng, 01 hộp vỏ giấy có in hình trái cây), 08 gói nylon hình chữ nhật chứa tinh thể màu trắng (06 gói nylon màu xanh in hình cây mía và chữ “Sugar”, 02 gói nylon màu xanh in chữ “Salt”) và 01 đôi dép nhựa xốp màu đen nên tiến hành lập biên bản tạm giữ xe ô tô và thu giữ các đồ vật có liên quan. Đồng thời tạm giữ Thiều Văn L và Đinh Thanh T để tiếp tục điều tra làm rõ.

Đến ngày 11/3/2023, Công an huyện A tiếp tục nhận được tin báo của người dân phát hiện trong bụi cây đối diện quán C1 có 01 gói dán Decal màu vàng, đặc điểm giống như các gói ma túy đã thu giữ vào ngày 03/3/2023 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A đã trích xuất L, T và phối hợp Phòng K Công an tỉnh A tổ chức khám nghiệm hiện trường. Tại hiện trường, Thiều Văn L và Đinh Thanh T xác định các gói ma túy là một trong những gói ma túy mà L, T và S1 đã ném bỏ vào ngày 03/3/2023.

Kết luận giám định số 40/KL-KTHS(MT-GT) ngày 09/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh A, xác định:

  • - Mẫu M1, M2 gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng: 6,12 kg (Sáu phẩy một hai kilogam).
  • - Mẫu M3 gửi đến giám định là ma túy, loại Ketamine, có tổng khối lượng: 2,02 kg (Hai phẩy không hai kilogam).
  • - Mẫu M4 gửi đến giám định là ma túy, loại MDMA, có tổng khối lượng: 1,32 kg (Một phẩy ba hai kilogam).
  • - Mẫu M5, M6 gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng: 8,12 kg (Tám phẩy một hai kilogam).

Kết luận giám định số 47/KL-KTHS(MT-GT) ngày 18/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh A, xác định: Mẫu M gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng: 0,98 kg (Không phẩy chín tám kilogam).

Kết luận giám định số 91/KL-KTHS(MT-GT) ngày 31/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh A, xác định: Mẫu M1, M2 gửi giám định không phát hiện thành phần các chất ma túy theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Kết luận giám định số 4058/KL-KTHS ngày 16/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh A, xác định: Chất lỏng đựng trong 03 hộp ký hiệu M1, M2, M3 gửi giám định đều không tìm thấy thành phần các chất ma túy và tiền chất theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Kết luận giám định số 159/KL-KTHS(KTSĐT-GT) ngày 17/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh A, kết luận: Tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong 05 điện thoại di động (ký hiệu: A1 - A5) do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A gửi giám định, chi tiết thể hiện trong đĩa DVD lưu trữ dữ liệu có tổng dung lượng dữ liệu 3,95 GB.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 18/6/2024 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang quyết định:

  1. Căn điểm h khoản 4 Điều 250; Điều 17; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 40, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đinh Thanh T tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.
  2. Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 250; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 40; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Thiều Văn L tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/6/2024, các bị cáo Đinh Thanh T, Thiều Văn L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

1. Phần xét hỏi:

  • - Bị cáo Đinh Thanh T giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi như Cáo trạng và Bản án sơ thẩm xác định, tuy nhiên về mức án Tòa cấp sơ thẩm tuyên là quá cao. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đồng thời bị cáo mong muốn được nhận lại chiếc điện thoại Iphone 14 Promax vì bị cáo chỉ dùng điện thoại OPPO Reno2 F để phạm tội.
  • - Bị cáo Thiều Văn L giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi như Cáo trạng và Bản án sơ thẩm xác định, tuy nhiên về mức án Tòa cấp sơ thẩm tuyên là quá cao. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

2. Phần tranh luận

2.1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

2.1.1. Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Kháng cáo của các bị cáo nằm trong hạn nên cần xem xét theo quy định pháp luật.

2.1.2. Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Đinh Thanh T, Thiều Văn L phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo nên hình phạt tử hình là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. Các bị cáo Đinh Thanh T, Thiều Văn L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết mới làm căn cứ xem xét giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của các bị cáo Đinh Thanh T, Thiều Văn L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

2.2. Phần đối đáp của luật sư Lê Thị Ánh T2 bào chữa cho các bị cáo Đinh Thanh T, Thiều Văn L: Về hành vi, các bị cáo đã thực hiện xác định đúng như Cáo trạng và Bản án sơ thẩm mô tả. Các bị cáo là người trình độ học vấn thấp nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo đã ăn năn hối cải, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ khác như gia đình bị cáo có công cách mạng, bị cáo có con nhỏ. Do đó, kính mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

2.3. Đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho các bị cáo và các bị cáo giữ nguyên quan điểm đã trình bày, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

3. Phần các bị cáo nói lời sau cùng:

  • - Bị cáo Đinh Thanh T: Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo do bị nhận thức pháp luật hạn chế, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Bản thân bị cáo tự nhận thấy là bị cáo còn có khả năng cải tạo, giáo dục để trở thành người tốt, chưa đến mức phải loại bỏ vĩnh viễn như bản án sơ thẩm tuyên xử.
  • - Bị cáo Thiều Văn L: Bị cáo đã ăn năn hối cải, bị cáo mong HĐXX cho bị cáo cơ hội được sống để có cơ hội trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo: Các bị cáo Đinh Thanh T, Thiều Văn L có đơn kháng cáo và đã thực hiện việc kháng cáo đúng quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của các bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:

[2.1] Vào ngày 03/3/2023, các bị cáo Đinh Thanh T, Thiều Văn L đã thực hiện hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy từ Campuchia vào Việt Nam. Khi các bị cáo đang trên đường vận chuyển ma túy về thành phố Hồ Chí Minh thì bị người khác dọa báo công an nên cả bọn sợ bị phát hiện liền vứt bỏ tại khu vực tổ A, ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang rồi chạy trốn nhưng sau đó bị cơ quan công an phát hiện bắt giữ. Kết quả giám định số ma túy thu giữ được do các bị cáo T, L vận chuyển từ Campuchia vào Việt Nam có tổng khối lượng: 15,22kg loại Methamphetamine; 2,02kg loại Ketamine; 1,32kg loại MDMA.

[2.2] Các bị cáo Đinh Thanh T, Thiều Văn L người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo nhận thức được việc vận chuyển trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo biết rất rõ ma túy là một tệ nạn xã hội nguy hiểm, không chỉ hủy hoại sức khỏe con người, mà còn là nguồn gốc làm phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện ý thức coi thường và bất chấp pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã xâmphạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, không những gây mất trật tự trị an, làm gia tăng tệ nạn nghiện ngập trong xã hội mà còn gây khó khăn trong việc phòng, chống tội phạm về ma túy và các tội phạm, tệ nạn xã hội khác.

[2.3] Với hành vi nêu tại mục [2.1] và nhận định tại mục [2.2], Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Đinh Thanh T, Thiều Văn L phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Huỳnh Thanh T3

[3.1] Đây là vụ án có đồng phạm, trong đó bị cáo T3 chủ động thuê phương tiện xe ô tô, liên hệ với bị cáo L để vận chuyển trái phép chất ma túy, do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo T3 có vai trò chính trong vụ án là đúng. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét xác định bị cáo T3 không có tình tiết tăng nặng và áp dụng đầy các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo T3 có thân nhân là Liệt sỹ, Mẹ Việt Nam Anh hừng, bị cáo T3 từng tham gia lực lượng dân phòng tại xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đồng thời Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét về nhân thân của bị cáo, mặc dù không có tiền án, phạm tội lần đầu, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội với khối lượng ma túy đặc biệt lớn (15,22kg loại Methamphetamine; 2,02kg loại Ketamine; 1,32kg loại MDMA), trên cơ sở xem xét các tình tiết giảm nhẹ nêu trên thì xét cũng không đủ lượng khoan hồng cho bị cáo, nên cần thiết phải loại bỏ vĩnh viễn bị cáo T3 ra khỏi đời sống xã hội mới tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo T3 hình phạt tử hình là phù hợp với quy định của pháp luật, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo thực hiện.

[3.2] Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T3 không cung cấp được tình tiết mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo T3, cũng như đề nghị của luật sư bào chữa cho bị cáo T3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị giữ nguyên mức hình phạt của bị cáo T3 tại bản án sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.

Đối với yêu cầu được nhận lại chiếc điện thoại Iphone 14 Promax vì bị cáo cho rằng bị cáo chỉ dùng điện thoại OPPO Reno2 F để phạm tội: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, cơ quan điều tra đã làm rõ và xác định được bị cáo có sử dụng chiếc điện thoại Iphone 14 Promax để phục vụ cho quá trình phạm tội của mình, nên yêu cầu được nhận lại chiếc điện thoại Iphone 14 Promax là không có căn cứ.

[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Thiều Văn L

[4.1] Đây là vụ án có đồng phạm, trong đó bị cáo T3 chủ động thuê phương tiện xe ô tô, liên hệ với bị cáo L để vận chuyển trái phép chất ma túy, do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo L có vai trò thực hành tích cực trong vụ án là đúng. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét xác định bị cáo L không có tình tiết tăng nặng và áp dụng đầy các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội với khối lượng ma túy đặc biệt lớn (15,22kg loại Methamphetamine; 2,02kg loại Ketamine; 1,32kg loại MDMA), trên cơ sở xem xét các tình tiết giảm nhẹ nêu trên thì xét cũng không đủ lượng khoan hồng cho bị cáo, nên cần thiết phải loại bỏ vĩnh viễn bị cáo L ra khỏi đời sống xã hội mới tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo L hình phạt tử hình là phù hợp với quy định của pháp luật, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo thực hiện.

[4.2] Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáoLai không cung cấp được tình tiết mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo L, cũng như đề nghị của luật sư bào chữa cho bị cáo L. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị giữ nguyên mức hình phạt của bị cáo L tại bản án sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.

[5] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị các bị cáo Đinh Thanh T, Thiều Văn L phải chịu theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.

VÌ CÁC LẼ TRÊN,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015,
  2. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đinh Thanh T, Thiều Văn L. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 18/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

    1. Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 250; Điều 17; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 40, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ năm 2017 xử phạt bị cáo Đinh Thanh T tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo Đinh Thanh T để bảo đảm thi hành án.
    2. Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 250; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 40; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Thiều Văn L tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Hoàng Thanh D để bảo đảm thi hành án.
  3. Trong thời hạn 07 (bảy) ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, các bị cáo Đinh Thanh T, Thiều Văn L có quyền làm đơn xin Chủ tịch N ân giảm án tử hình cho mình.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
  5. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Đinh Thanh T, Thiều Văn L mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

CÁC THẨM PHÁN

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thúy C - Nguyễn Văn H1

Vũ Đức Toàn

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao; (1)
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh; (1)
  • - TAND tỉnh An Giang; (3)
  • - VKSND tỉnh An Giang; (1)
  • - Trại tạm giam tỉnh An Giang (3)
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh; (1)
  • - Cục THADS TP. Hồ Chí Minh; (1)
  • - Lưu: VP, HS (ĐTM) (5).
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 841/2024/HS-PT ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (vận chuyển trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 841/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Vận chuyển trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đinh Thanh T, Thiều Văn L. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 18/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger