Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 840/2024/HSPT

Ngày: 18-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm

Các Thẩm phán: 1. Ông Đinh Quốc Trí

2. Bà Đặng Thị Thanh Huyền

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thúy Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 645/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Đặng Minh C do có kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty T1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 183/2024/HS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

* Bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị:

Đặng Minh C, sinh năm 2003.

ĐKHKTT và nơi cư trú: Khu A, xã N, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị B; vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không;

Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2022/HSST ngày 25/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ xử phạt Đặng Minh C 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ra trại ngày 18/11/2022 (chưa được xóa án tích);

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H; vắng mặt tại phiên tòa;

* Bị hại không kháng cáo: Chị Trịnh Thị Ngọc A, sinh năm 2004; nơi cư trú: Số I, ngách 32/84/27, phố Đ, phường M, quận N, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa;

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có kháng cáo:

Công ty T1; Địa chỉ trụ sở chính: Tầng H nhà G, số B đường P, phường F, quận B, thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật của Công ty: Ông Nguyễn Hữu N; Chức vụ: Tổng Giám đốc;

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty: Ông Đào Văn L; Chuyên viên pháp lý tố tụng, Phòng thu hồi nợ của Công ty (Theo Giấy ủy quyền số: 160629-3/GUQ-TGĐ ngày 29/6/2016 và Giấy ủy quyền số: 240422-4-CCO ngày 22/4/2024 của Công ty T1); vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Minh C là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định và do không có tiền tiêu xài cá nhân nên đã nảy sinh ý định lừa đảo bằng cách đăng bài viết với nội dung cần tuyển lao động lên mạng xã hội, nếu có người liên hệ C sẽ hẹn gặp mặt và tìm cơ hội chiếm đoạt tài sản lấy tiền chi tiêu. Ngày 19/3/2024, C sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu đen truy cập vào tài khoản Facebook “Nguyễn M” đăng bài viết trong nhóm “T nhân sự cho quán C3” với nội dung: “TUYỂN NHÂN VIÊN PHỤC VỤ TẠI 145 hồ tùng mậu LƯƠNG 25 – 28k/1h ca linh hoạt 4- 8”. Sau khi đọc được bài viết, chị Trịnh Thị Ngọc A (Sinh năm: 2004; HKTT: Khu B, P, B, Thanh Hóa) đã sử dụng tài khoản Facebook “Ngọc A” nhắn tin cho C hỏi thông tin tuyển việc làm thì C gọi điện cho Ngọc A hẹn gặp tại số A đường H, phường C, quận N, Hà Nội để trao đổi trực tiếp. Khoảng 18 giờ ngày 20/3/2024, chị Ngọc A đến gặp C theo hẹn thì C đưa ra quán nước gần đó ngồi và nói sẽ bố trí cho chị Ngọc A làm việc tại quán C3 khu vực M với mức lương 28.000 đồng/giờ, ngày làm việc 05 tiếng và hẹn chị Ngọc A khoảng 18 giờ ngày 21/3/2024 có mặt tại số A đường H để C đưa đến nơi làm việc. Đến khoảng 18 giờ ngày 21/3/2024, chị Ngọc A đến gặp C tại số A đường H thì C bảo quần áo của chị Ngọc A không phù hợp, phải đi mua quần áo khác và điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, không gắn BKS, chở chị Ngọc A đến Cửa hàng quần áo tại số A đường P, phường P, quận N, Hà Nội để mua quần áo. Tại đây, C giả vờ hỏi

mượn chiếc điện thoại Iphone XR 64GB màu trắng của chị Ngọc A để tải App của quán C1 và hỏi mật khẩu điện thoại, chị Ngọc A do tin tưởng nên đã đưa điện thoại và mật khẩu điện thoại cho C. Sau đó, C lợi dụng lúc chị Ngọc A vào phòng thay đồ để thử quần áo, C đã cầm theo chiếc điện thoại mượn của chị Ngọc A rồi lấy xe máy bỏ đi. Trên đường đi, C tháo vứt bỏ sim điện thoại, đổi mật khẩu máy từ 999999 thành 000000 và reset lại máy sau đó mang đến cửa hàng điện thoại của anh Nguyễn Thành C2 (Sinh năm: 1996; HKTT: Bạch Long, G, Nam Định) tại số F Đ, phường P, quận B, Hà Nội để bán. Tại đây, C nói với anh C2 là điện thoại của mình, do không có nhu cầu sử dụng nên muốn bán rồi mở mật khẩu điện thoại để anh C2 kiểm tra. Anh C2 sau khi kiểm tra đã đồng ý mua với giá 2.550.000 đồng (Bằng chữ: Hai triệu, năm trăm năm mươi nghìn đồng). Số tiền bán điện thoại, C đã chi tiêu cá nhân hết. Ngày 22/3/2024, chị Ngọc A đã đến cơ quan Công an phường P trình báo sự việc.

Ngày 22/3/2024, khi C đang ngồi uống nước tại khu vực đường V, phường P, quận B, Hà Nội thì bị Cơ quan Công an mời về trụ sở Công an để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Đặng Minh C khai nhận hành vi phạm tội của C như đã nêu trên.

Vật chứng tạm giữ của Đặng Minh C gồm có: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh (không gắn BKS) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu đen, đã qua sử dụng; Anh Nguyễn Thành C2 giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu trắng, đã qua sử dụng, không gắn sim.

Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 80/KLĐGTS ngày 05/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N, kết luận: “01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphong XR 64 GB, màu trắng, Imei: 356453103855590, đã qua sử dụng. Trị giá tài sản là: 3.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba triệu đồng); 01 chiếc sim điện thoại thuê bao số 0947.167.xxx. Trị giá tài sản là: 25.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi lăm ngàn đồng);

Tổng trị giá tài sản C chiếm đoạt của chị Trịnh Thị Ngọc A là: 3.025.000 đồng (Bằng chữ: Ba triệu, không trăm hai mươi lăm nghìn đồng);

Đối với anh Nguyễn Thành C2, quá trình điều tra xác định khi mua điện thoại của C, anh C2 không biết là tài sản do người khác phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, không gắn BKS, số máy: JA70E – 0016174, số khung: RLHJA3935PY012480, quá trình điều tra, xác định: Xe có BKS là: 19H1 – 307.22, đăng ký chủ xe: Đặng Minh C. C khai đã mua xe trả góp tại cửa hàng X (Địa chỉ: ngã 3 Q, xã T, huyện C, tỉnh Hải

Dương) và thế chấp xe cho Công ty T1 (Địa chỉ: Tầng H nhà G, số B P, phường F, quận B, thành phố Hồ Chí Minh, theo Hợp đồng thế chấp số: 2W028181221 ngày 30/7/2023. Tính đến ngày 22/4/2024, C còn nợ Công ty T1 số tiền là: 6.846.334 đồng (Bằng chữ: Sáu triệu, tám trăm bốn mươi sáu nghìn, ba trăm ba mươi bốn đồng);

Ngày 24/4/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 1865/QĐ-CQĐT(ĐTTH) trao trả cho chị Trịnh Thị Ngọc A 01 điện thoại Iphone XR màu trắng. Chị Ngọc A, anh Nguyễn Thành C2 không yêu cầu về trách nhiệm dân sự. Đại diện Công ty T1 đề nghị được nhận lại chiếc xe máy Honda Wave, BKS: 19H1 – 307.22 của Đặng Minh C để xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp.

Tại bản Cáo trạng số 148/CT-VKSNTL ngày 05/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội truy tố Đặng Minh C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số 183/2024/HS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội:

Tuyên bố bị cáo Đặng Minh C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 147; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự

Xử phạt: Bị cáo Đặng Minh C 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/3/2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, các điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự;

Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu đen, đã qua sử dụng và 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave (không gắn BKS, số máy: JA70E - 0016174, số khung: RLHJA3935PY012480) (Có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 219 ngày 07/6/202 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 10/7/2024, Công ty T1 có đơn kháng cáo về phần dân sự với nội dung xin được nhận lại 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave (không gắn BKS, số máy: JA70E - 0016174, số khung: RLHJA3935PY012480).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội nhận định:

Về hình thức kháng cáo: Đơn kháng cáo của Công ty T1 trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nội dung kháng cáo:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Đặng Minh C, có đủ cơ sở xác định: bị cáo Đặng Minh C đã sử dụng chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave (không gắn BKS, số máy: JA70E - 0016174, số khung: RLHJA3935PY012480) làm phương tiện di chuyển trong quá trình phạm tội nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước là phù hợp với quy định của pháp luật.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của Công ty T1 và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Cụ thể: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, các điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave (không gắn BKS, số máy: JA70E - 0016174, số khung: RLHJA3935PY012480), (có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 219 ngày 07/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội).

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]Đơn kháng cáo của Công ty T1 trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể, được Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]Căn cứ vào lời khai của bị cáo Đặng Minh C, vật chứng thu được, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ ngày 21/3/2024, tại cửa hàng quần áo, địa chỉ: Số A đường P, phường P, quận N, thành phố Hà Nội, Đặng Minh C đã có hành vi gian dối chiếm đoạt chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XR, 64 GB, màu trắng của chị Trịnh Thị Ngọc A, sau đó C mang chiếc điện thoại bán cho anh Nguyễn Thành C2 tại Cửa hàng điện thoại số F Đ, phường P, quận B, Hà Nội với giá 2.550.000

đồng và chi tiêu cá nhân hết. Trị giá tài sản C chiếm đoạt của chị Trịnh Thị Ngọc A là 3.025.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Đặng Minh C đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đặng Minh C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]Xét nội dung kháng cáo của Công ty T1, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Quá trình phạm tội, bị cáo Đặng Minh C đã sử dụng xe máy nhãn hiệu Honda Wave (không gắn BKS, số máy: JA70E - 0016174, số khung: RLHJA3935PY012480) để đưa bị hại chị Trịnh Thị Ngọc A đến cửa hàng quần áo tại số A đường P. Sau khi chiếm đoạt được chiếc điện thoại Iphone XR 64Gb của chị Ngọc A, C tiếp tục sử dụng chiếc xe máy này để bỏ trốn và tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có. Như vậy, chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave đã được C sử dụng làm phương tiện di chuyển trong quá trình phạm tội.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước đối với chiếc xe máy trên là phù hợp với các quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Công ty T1 và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Công ty T1 có thể khởi kiện vụ án dân sự khác đối với trách nhiệm dân sự theo Hợp đồng thế chấp đã ký giữa Công ty và bị cáo Đặng Minh C.

[4]Hội đồng xét xử giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm nên Công ty T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp trước đó.

[5]Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:

1. Không chấp nhận kháng cáo của Công ty T1 và giữ nguyên Quyết định của bản án sơ thẩm:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, các điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave (không gắn BKS, số máy: JA70E - 0016174, số khung: RLHJA3935PY012480). (Có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 219 ngày 07/6/202 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội).

2. Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Công ty T1 phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm, được đối trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009898 ngày 24/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 18/9/2024.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - Công an quận Nam Từ Liêm;
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm;
  • - TAND quận Nam Từ Liêm;
  • - THADS quận Nam Từ Liêm;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, V.Phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 840/2024/HSPT ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 840/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 18 giờ ngày 21/3/2024, tại cửa hàng quần áo, địa chỉ: Số 104 đường Phú Đô, phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Đặng Minh Chiến đã có hành vi gian dối chiếm đoạt chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XR, 64 GB, màu trắng của chị Trịnh Thị Ngọc Anh, sau đó Chiến mang chiếc điện thoại bán cho anh Nguyễn Thành Công tại Cửa hàng điện thoại số 6A Đức Diễn, phường Phúc Diễn, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội với giá 2.550.000 đồng và chi tiêu cá nhân hết. Trị giá tài sản Chiến chiếm đoạt của chị Trịnh Thị Ngọc Anh là 3.025.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger