TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 840/2023/HNGĐ-PT Ngày: 15-8-2023 V/v: Tranh chấp ly hôn, chia tài sản khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa: Bà Trần Thị Lệ Uyên
Các Thẩm phán: Bà Ngô Thị Kim Khánh
Ông Phan Trịnh Minh Đức
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Tây – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đồng Văn Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 37/2023/TLPT-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn, chia tài sản khi ly hôn”.
Do Bản án sơ thẩm số 410/2023/HNGĐ-ST ngày 31 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2991/2023/QĐ-PT ngày 21 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Lê Hồng T, sinh năm 1963 (có mặt)
- Địa chỉ: 1 P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trần Văn T1-Đoàn luật sư Thành phố H.
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1962 (có mặt)
- Địa chỉ: 1 P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Phan Thị Việt T2-Hội luật gia Thành phố H.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1983 (vắng mặt).
- Trẻ Nguyễn Lê Hồng T3, sinh năm 2011 (vắng mặt).
- Cùng địa chỉ: B Đường D, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm nội dung vụ án như sau:
- * Nguyên đơn ông Lê Hồng T trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị Kim N chung sống có đăng ký kết hôn năm 1987. Quá trình chung sống, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh vì khác biệt về cách sống, cách xây dựng gia đình, hiện đã sống ly thân hơn mười năm nay. Nay ông xác định không còn tình cảm với bà N nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Về con chung: Có hai con chung tên Lê Hồng D sinh ngày 01/9/1989 và Lê Hồng Â, sinh ngày 20/9/1991 đều đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Có một tài sản chung là nhà đất số A đường số C (số mới 160/1/69 P), Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông yêu cầu chia 50% giá trị nhà đất nêu trên theo quy định. Trong trường hợp bà N nhận nhà, ông đồng ý nhận giá trị 4.500.000.000 đồng do bà N thanh toán. Nếu ông nhận nhà, ông sẽ thanh toán cho bà N 5.413.486.242 đồng theo kết quả của Hội đồng định giá ngày 22/7/2022.
Đối với căn nhà số A P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và phần đất 148,9m² thửa 46-36 tờ bản đồ số 24 phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản riêng của ông được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân. Ông không đồng ý với yêu cầu phản tố của bà N yêu cầu chia 50% giá trị các tài sản nêu trên vì ông được tặng cho và thừa kế hợp pháp đã được cơ quan có thẩm quyền cập nhật sang tên ông.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về kết quả định giá các tài sản nêu trên, ông đồng ý.
- * Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim N trình bày:
Bà thống nhất với lời trình bày của ông Lê Hồng T về việc chung sống có đăng ký kết hôn. Bà xác nhận giữa bà và ông T có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn, vợ chồng không hạnh phúc nên bà đồng ý ly hôn với ông T. Tuy nhiên, bà chỉ đồng ý ly hôn với điều kiện bà được chia 50% giá trị của tất cả các tài sản kể cả tài sản đứng tên riêng ông T theo đúng công sức mà bà đã bỏ ra để đảm bảo đời sống của bà và con cháu sau này.
Về con chung: Có hai con chung tên Lê Hồng D sinh ngày 01/9/1989 và Lê Hồng Â, sinh ngày 20/9/1991 đều đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Có một tài sản chung là nhà đất số A đường số C (số mới 160/1/69 P), Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà thống nhất chia 50% giá trị nhà đất nêu trên theo quy định.
Ngoài ra, bà có đơn phản tố yêu cầu đưa căn nhà số A P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản của bà Lê Thị N1 tặng cho ông T và phần đất 148,9m² thửa 46-36 tờ bản đồ số 24 phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản của bà Lý Thị C tặng cho ông T vào tài sản chung của vợ chồng và đề nghị chia 50% giá trị các tài sản nêu trên cho bà theo quy định.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về kết quả định giá các tài sản nêu trên, bà đồng ý.
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M trình bày:
Bà và con gái Lê Thị Hồng T4 được ông Lê Hồng T cho ở nhờ không thu tiền nhà tại địa chỉ số B Đường D, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với tranh chấp giữa ông T với bà N, bà không liên quan nên không có ý kiến gì.
Tại Bản án sơ thẩm số 410/2023/HNGĐ-ST ngày 31/3/2023, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Hồng T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim N (Giấy chứng nhận kết hôn số 00037 ngày 18/8/1987 tại Ủy ban nhân dân Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị).
- - Về con chung: Ông bà có hai con chung tên Lê Hồng D sinh ngày 01/9/1989 và Lê Hồng  sinh ngày 20/9/1989, hai con chung đều đã trưởng thành.
- - Về tài sản chung: Ông Lê Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim N có một tài sản chung là nhà đất số A đường số C (số mới 160/1/69 P), Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thửa đất số 635 tờ bản đồ số 270, diện tích 126,3m² được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 79764268810295 do Ủy ban nhân dân quận G cấp ngày 04/02/2009, số hồ sơ gốc 065/2009 đứng tên ông Lê Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim N, giá trị tài sản chung theo kết quả định giá tài sản ngày 22/7/2022 là 10.826.972.484 đồng.
- Ông Lê Hồng T được quyền sở hữu đối với nhà đất tại địa chỉ 1 đường số C (số mới 160/1/69 P), Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thửa đất số 635 tờ bản đồ số 270, diện tích 126,3m² được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 79764268810295 do Ủy ban nhân dân quận G cấp ngày 04/02/2009. Ông T có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động, làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản mang tên Lê Hồng T đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được chia nêu trên, đồng thời ông Lê Hồng T có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị Kim N 50% giá trị căn nhà và đất tương đương với số tiền 5.413.486.242 đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Việc giao nhận tiền thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- - Về nợ chung: Hai bên xác định không có nợ chung.
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 10/4/2023, bà Nguyễn Thị Kim N nộp đơn kháng cáo bản án.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- - Nguyên đơn tự nguyện giao căn nhà tài sản chung vợ chồng cho bà Nguyễn Thị Kim N quản lý, sử dụng, khi nào bà N bán nhà phải có trách nhiệm thanh toán cho ông 3.000.000.000 đồng.
- - Bị đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết chia cho bà 20% giá trị của căn nhà số A P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và phần đất 148,9m² thửa 46-36 tờ bản đồ số 24 phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh với lý do các tài sản trên bà có công sức đóng góp và tôn tạo trong thời kỳ hôn nhân.
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ông Lê Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim N chỉ có một tài sản chung duy nhất là nhà đất số A đường số C (số mới 160/1/69 P), Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nên cấp sơ thẩm chia mỗi người 50% giá trị là phù hợp. Đối với căn nhà số A P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và phần đất 148,9m² thửa 46-36 tờ bản đồ số 24 phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản riêng của ông T do được hưởng thừa kế, được tặng cho riêng. Về việc bà N yêu cầu tính công sức đối với hai tài sản này, bà N không có căn cứ chứng minh. Tại phiên tòa, ông T tự nguyện giao tài sản chung cho bà N và sẽ nhận 3.000.000.000 đồng khi bà N bán nhà, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:
Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét yếu tố lỗi của ông Lê Hồng T làm gia đình rạn nứt không hạnh phúc. Bà Nguyễn Thị Kim N có công sức trong việc xây dựng nhà của bà Lê Thị N1 và bà Lý Thị C nhưng cấp sơ thẩm không xem xét công sức đóng góp của bà N đối với hai tài sản nêu trên. Về thủ tục tố tụng, căn nhà tài sản chung đang cho thuê nhưng cấp sơ thẩm không đưa người thuê nhà tham gia tố tụng. Đồng thời, tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử tống đạt cho bà N không có tên bà Nguyễn Thị M và trẻ Hồng Thắm nhưng tại một Quyết định đưa vụ án ra xét xử khác có tên bà M và trẻ T4. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết lại.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự và người tham gia tố tụng khác đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý phúc thẩm và xét xử. Về phía các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền của mình theo Bộ luật tố tụng dân sự quy định.
Về nội dung: Ông Lê Hồng T được các anh chị em nhường thừa kế căn nhà số A P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh của bà Lê Thị N1. Đối với phần đất 148,9m² thửa 46-36 tờ bản đồ số 24 phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh của bà Lý Thị C tặng cho riêng ông T. Đây là hai tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân nhưng ông T không nhập vào tài sản chung vợ chồng nên được xem là tài sản riêng của ông T. Bà Nguyễn Thị Kim N kháng cáo yêu cầu tính công sức nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở xem xét. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà N, sửa bản án sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của ông T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về thủ tục tố tụng:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn kháng cáo về vấn đề tài sản, các nội dung khác không có đương sự nào kháng cáo. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, phạm vi xét xử phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, các vấn đề khác không có kháng cáo, cấp phúc thẩm không xét.
- [2] Về nội dung:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 00037 ngày 18/8/1987 của Ủy ban nhân dân Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, xác định quan hệ giữa ông Lê Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim N là hôn nhân hợp pháp, có hai con chung đều đã trưởng thành.
- [3] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim N, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Trong thời kỳ hôn nhân, ông Lê Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim N tạo lập được tài sản chung là nhà đất số A đường số C (số mới 160/1/69 P), Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Tài sản này đã được cấp sơ thẩm phân chia, đương sự không kháng cáo, cấp phúc thẩm không xét.
Cũng trong thời kỳ hôn nhân, có tồn tại hai tài sản là căn nhà số A P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và phần đất 148,9m² thửa 46-36 tờ bản đồ số 24 phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh mà bà N cho là tài sản chung vợ chồng nên yêu cầu chia.
Hội đồng xét xử xét, căn nhà số A P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh có nguồn gốc của bà Lê Thị N1 là người cô của ông T. Sau khi bà N1 chết, anh chị em trong gia đình lập Văn bản thỏa thuận phân chia di sản tự nguyện nhường phần thừa kế cho ông T đối với căn nhà do bà N1 để lại và được cập nhật sang tên cho cá nhân ông T ngày 17/01/2006. Đối với phần đất 148,9m² thửa 46-36 tờ bản đồ số 24 phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh có nguồn gốc của bà Lý Thị C là mẹ ông T đã làm hợp đồng tặng cho riêng ông T và được cập nhật sang tên cho cá nhân ông T ngày 24/7/2007.
Theo Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình về tài sản riêng của vợ, chồng: “Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng; được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân...”. Căn cứ quy định trên, Hội đồng xét xử thấy rằng hai tài sản trên đã được gia đình ông T nhường thừa kế, tặng cho riêng ông T trong thời kỳ hôn nhân mà không có tặng cho chung hai vợ chồng, đồng thời ông T không có thỏa thuận nhập tài sản riêng của ông vào tài sản chung vợ chồng với bà N nên các tài sản mà bà N yêu cầu chia vẫn là tài sản riêng của ông T. Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà N chia căn nhà số A P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và phần đất 148,9m² thửa 46-36 tờ bản đồ số 24 phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ.
Về việc bà N yêu cầu chia công sức đối với hai tài sản trên, bà N cho rằng bà có công sức đóng góp cực khổ từ những năm bà Nguyễn Thị N2 và bà Lý Thị C còn sống, Hội đồng xét xử thấy rằng thời điểm đó các tài sản vẫn thuộc quyền sở hữu của bà N2, bà C chưa được chuyển giao cho ông T nên không thể tính công sức tài sản chung vợ chồng vào thời điểm này cho bà N. Sau khi ông T được đứng tên các tài sản trên, cấp sơ thẩm đã thu thập, xác định bà N không có công sức gì trong việc gìn giữ, tôn tạo hoặc sửa chữa các tài sản được tặng cho riêng ông T trong thời kỳ hôn nhân nên không tính công sức cho bà N là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, bà N không cung cấp được tài liệu chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên cấp phúc thẩm không có cơ sở xem xét.
Về việc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà N yêu cầu hủy bản án sơ thẩm, xét sai sót trên không nghiêm trọng, không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Mặt khác, tại Biên bản xác minh tại Công an phường đã xác định căn nhà số A P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh không có ai cư trú.
Từ những nhận định trên, nhận thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim N. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lê Hồng T đồng ý giao tài sản chung cho bà N quản lý, sử dụng và tự nguyện nhận 3.000.000.000 đồng khi bà N bán nhà. Xét đây là ý chí tự nguyện của ông T không trái quy định pháp luật nên cần sửa bản án sơ thẩm, ghi nhận sự tự nguyện nêu trên của ông T.
- [4] Những nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật.
- [5] Về án phí:
Ông Lê Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim N là người cao tuổi theo quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 228, Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 43, Điều 46 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 213 Bộ luật dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim N.
- Sửa Bản án sơ thẩm số 410/2023/HNGĐ-ST ngày 31/3/2023 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, như sau:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hồng T.
- - Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Hồng T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim N.
- - Về con chung: Có hai con chung tên Lê Hồng D sinh ngày 01/9/1989 và Lê Hồng  sinh ngày 20/9/1989 đều đã trưởng thành.
- - Về tài sản chung: Có một tài sản chung là nhà đất số A đường số C (số mới 160/1/69 P), Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc thửa 635 tờ bản đồ số 270 diện tích 126,3m² theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 0654/2009/UB.GCN ngày 04/02/2009 của Ủy ban nhân dân quận G có giá trị là 10.826.972.484 đồng.
- Ghi nhận ông Lê Hồng T tự nguyện giao cho bà Nguyễn Thị Kim N quản lý, sử dụng nhà đất số 156/65 đường số C (số mới 160/1/69 P), Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc thửa 635 tờ bản đồ số 270 diện tích 126,3m² theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 0654/2009/UB.GCN ngày 04/02/2009 của Ủy ban nhân dân quận G.
- Khi bà Nguyễn Thị Kim N bán nhà, ông Lê Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim N cùng thực hiện thủ tục mua bán và bà Nguyễn Thị Kim N có trách nhiệm giao ông Lê Hồng T 3.000.000.000 đồng từ tiền bán nhà đất số A đường số C (số mới 160/1/69 P), Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Về nợ chung: Không có.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Kim N.
- Những nội dung khác của phần quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật.
- Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Hồng T và bà Nguyễn Thị Kim N được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.
- Riêng án phí ly hôn sơ thẩm ông Lê Hồng T tự nguyện chịu 300.000 đồng, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0048474 ngày 30/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp. Ông Lê Hồng T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Hoàn trả ông Lê Hồng T 28.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0048475 ngày 31/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp.
- - Án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim N được miễn nộp án phí phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lệ Uyên |
Bản án số 840/2023/HNGĐ-PT ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn, chia tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 840/2023/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, chia tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
