|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 840/2024/HS-PT Ngày 16 - 9 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn
Các Thẩm phán: 1/ Ông Nguyễn Đắc Minh
2/ Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú
Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân:Ông Phạm Ba Duy, Kiểm sát viên cao cấp
Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong các ngày 09/9/2024 đến 16/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số
316/2024/TLPT-HS ngày 23/4/2024. Do có kháng cáo của bị cáo Hứa Nghiệp T,
đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HS-ST ngày 14/3/2024 của Tòa án nhân
dân tỉnh Đồng Nai.
Bị cáo kháng cáo: Hứa Nghiệp T (tên gọi khác: H); sinh năm 1974, tại tỉnh
Thành phố H2; nơi ĐKNKTT: số B, đường N, phường D, quận A, Thành phố Hồ
Chí Minh; chỗ ở hiện nay: số A, đường Q, khu phố C, Phường A, Quận A, Thành
phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc:
Hoa; Tôn giáo: Phật; trình độ học vấn: lớp 07/12; con ông: Phạm Bá N, không rõ
năm sinh (đã chết) và bà: Hứa L, sinh năm 1947 (đã chết); có vợ Võ Thị Tuyết M,
sinh năm 1979 và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2014;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị tạm giữ từ ngày 02/6/2023 và chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số
215/LTG-CSHS-Đ4 ngày 07/6/2023, của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh
Đ. Đến ngày 27/10/2023, được Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai ra Quyết
định hủy bỏ biện pháp tạm giam số 5654/QĐ-VKS-P2 và hiện đang tại ngoại (Có
mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Hứa Nghiệp T: Luật sư Nguyễn Thị Hồng V,
thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (Có mặt).
Địa chỉ: số B H, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bị hại không kháng cáo: Ông Bùi Văn X; sinh năm 1947; Địa chỉ: số
E, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo:
- Bùi Quốc M1; sinh năm 1991; địa chỉ: số E, khu phố D, phường T, thành
- Võ Thị Tuyết M; sinh năm 1978; địa chỉ: số A, đường Q, khu phố C,
phố B, tỉnh Đồng Nai.
Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 30/5/2023, Hứa Nghiệp T đọc tin tức trên B và biết được Phòng
khám T2, địa chỉ: 5, khu phố D, phường T, B, tỉnh Đồng Nai đang bị lực lượng
Công an kiểm tra, khám xét và thu giữ nhiều tài liệu, máy móc liên quan đến công
tác khám bệnh của cơ sở này nên T đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản
của Phòng khám T2. Để thực hiện ý định trên, T lên G tra cứu thông tin về Công ty
Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Phòng khám T2 trên trang website thì có đầy đủ
thông tin địa chỉ, người đại diện là ông Bùi Văn X và số điện thoại 0913.872.xxx.
Khoảng 19 giờ ngày 30/05/2023, T sử dụng số điện thoại 0936.472.xxx gọi
đến số điện thoại 0913.872.xxx và gặp ông X, T tự giới thiệu tên là S công tác tại
Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai hôm trước đã tham gia khám xét Phòng khám
của ông X. T nói với ông X là T có khả năng lo thả được cho mấy nhân viên của
phòng khám đang bị Công an tạm giữ, nhưng phải mất tiền. Ông X tin tưởng và nói
sẽ chi 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) nhờ T lo việc. Nhưng T nói với ông
X ít quá, phải 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) T hứa với ông X là sau khi
nhận đủ tiền sẽ thả 02 người đang bị Công an tạm giữ và trả lại thiết bị máy móc,
tài liệu cho phòng khám T2. Nghe T nói vậy thì ông X đồng ý. Qua nói chuyện, T
biết ông X đang nằm viện điều trị bệnh nên T yêu cầu ông X mua một sim điện
thoại số khác để liên hệ với T và cử người đi đưa tiền cho T. Buổi tối cùng ngày
ông X đã mua một số sim mới (không nhớ số) và cung cấp cho T.
Sáng ngày 31/5/2023, ông X chuẩn bị số tiền 500.000.000 đồng và kêu con
trai là anh Bùi Quốc M1 cùng với cháu gái là chị Bùi Thị H1 và anh Nguyễn Bá K
(tài xế lái xe) đến Công an thành phố B để liên hệ với T nhận người và tài sản bị
Công an tạm giữ. Ông X đưa số điện thoại mới cho anh M1 sử dụng để liên hệ với
T. Trước khi đi, chị H1 đã kiểm đếm lại số tiền 500.000.000 đồng trong đó, có 15
cọc tiền mệnh giá 200.000 đồng với số tiền là 300.000.000 đồng và 04 cọc tiền
mệnh giá 500.000 đồng với số tiền là 200.000.000 đồng. Chị H1 ghi lại số seri của
một số tờ tiền trên mỗi cọc tiền và chụp ảnh các cọc tiền lưu lại rồi cho tiền vào 01
bịch nilon màu đen và giao cho anh M1.
Khoảng 07 giờ sáng ngày 31/05/2023, T một mình điều khiển xe mô tô hiệu
Yamaha Nouvo màu vàng - đen, biển số 59H1 - 269.56 chạy từ Thành phố Hồ Chí
Minh đi đến thành phố B, tỉnh Đồng Nai để lấy tiền. Khi đến thành phố B, T sử
dụng số điện thoại 0936.472.xxx gọi vào số điện thoại do ông X cung cấp thì gặp
anh M1 nghe điện thoại. Khi biết anh M1 đi cùng với chị H1 và anh K thì T yêu
cầu anh M1 cung cấp họ tên, số điện thoại của những người đi cùng cho T biết và
nói anh M1 đi đến Công an thành phố B. Anh M1 cầm theo bịch tiền cùng chị H1
và anh K sử dụng xe ô tô Inova 7 chỗ đi đến Công an thành phố B. Trên đường đi,
T gọi điện thoại cho anh M1 và nói với anh M1 mua 05 ổ bánh mì, 05 chai nước
suối để cho 05 người nhân viên phòng khám đang bị tạm giữ sử dụng. Khi anh M1
đến cổng Công an thành phố B thì T yêu cầu anh M1 chạy xe đi qua cổng Công an
thành phố B và ghé vào quán cà phê bên kia đường, cách Công an thành phố B
khoảng 01 km để đợi T. Anh M1 thực hiện yêu cầu của T cùng chị H1 vào quán cà
phê tên “Zề CuBe”, còn anh K thì ngồi đợi trên xe ô tô. T gọi điện cho anh M1 để
giao tiền thì anh M1 đưa bịch tiền bên trong có 500.000.000 đồng cho chị H1, chị
H1 bỏ bánh mì và nước uống vào trong bọc tiền rồi đi cùng với anh K, còn anh M1
ngồi tại quán cà phê. K điều khiển xe ô tô chở chị H1 đi đến cổng Công an thành
phố B, trên đường đi T gọi điện thoại cho K hướng dẫn để chị H1 cầm theo tiền và
xuống xe đi bộ, còn K chạy xe ô tô đi nơi khác. Chị H1 xuống xe ô tô cầm theo
bịch tiền, lúc này T gọi điện thoại cho chị H1 hướng dẫn chị H1 cầm theo bịch tiền
đi lòng vòng xung quanh khu vực ngoài cổng Công an thành phố B và sau đó, T
yêu cầu chị H1 ngồi xuống đặt bịch tiền vào trong một bụi hoa giấy giữa hai làn
đường xe ô tô phía trước cổng Công an thành phố B và đi thẳng, không được quay
lại nhìn. Chị H1 đặt tiền vào vị trí theo yêu cầu của T rồi đi bộ quay lại quán cà phê
“Zề CuBe” kể lại việc giao tiền cho anh M1 biết.
Sau khi quan sát xung quanh thấy an toàn, T đi đến chỗ để tiền và lấy bịch
tiền bỏ vào trong cốp xe mô tô rồi lên xe bỏ đi. T chạy xe đến ngã ba Vũng Tàu thì
tháo sim số 0936.472.273 ra khỏi máy điện thoại nokia và bẻ sim vứt đi. Sau đó T
đi về nhà tại Thành phố Hồ Chí Minh, lấy số tiền vừa lừa được của ông X đem đi
trả nợ hết. Lúc này Anh M1 ngồi trong quán đợi một lúc lâu nhưng không thấy T
liên lạc lại, nên anh M1 đã gọi điện thoại cho T nhưng không liên lạc được. Do
nghi ngờ bị lừa nên anh M1 đã ra kiểm tra chỗ để tiền thì không thấy bọc tiền đâu,
nên anh M1 liên hệ với Đội Cảnh sát Kinh tế - Công an thành phố B hỏi người tên
S nhưng bên Công an trả lời là không có ai tên S. Sau khi biết mình bị lừa tiền, anh
M1 đã làm đơn tố cáo hành vi của T đến Cơ quan Công an.
Ngày 02/06/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ra Lệnh bắt
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và ra Quyết định tạm giữ đối với Hứa
Nghiệp T. Quá trình điều tra bị can Hứa Nghiệp T đã khai nhận toàn bộ hành vi
phạm tội nêu trên.
Vật chứng của vụ án:
01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo màu vàng - đen, biển số 59H1 -
269.56 và 01 (một) giấy đăng ký xe biển số 59H1 - 269.56; 01 (một) điện thoại
Nokia màu xanh, số sê ri 1: 357745109774629; số sê ri 2: 357752101774623, số
sim: 0905720148; 01 (một) điện thoại Iphone 7 màu trắng, đen, số sê ri
DNPSQ938HG7N, số sim 0907679378; 01 (một) đôi dép da màu nâu, 01 (một) áo
sơ mi dài tay màu xám kẻ caro, 01 (một) quần dài nam màu đen, 01 (một) nón lưỡi
trai màu xám, 01 (một) nón lưỡi trai màu đen, 01 (một) nón bảo hiểm màu xám và
01 (một) túi đeo màu nâu. Tất cả vật chứng trên thu giữ là của bị can Hứa Nghiệp
T.
Số tiền 6.540.000 đồng (sáu triệu năm trăm bốn mươi ngàn đồng) thu giữ tại
nhà của Hứa Nghiệp T, đây là tiền của chị Võ Thị Tuyết M (vợ của T). Qúa trình
điều tra xác định số tiền trên không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều
tra Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định trả lại cho chị Võ Thị Tuyết M là phù hợp (bút
lục số 41 - 42).
01 (một) USB bên trong chứa dữ liệu camera có hình ảnh đối tượng liên
quan đến vụ án (bút lục số 46).
Về trách nhiệm dân sự: Ông Bùi Văn X yêu cầu Hứa Nghiệp T trả lại số tiền
500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng), gia đình bị can T đã trả lại số tiền
500.000.000 đồng cho ông X. Hiện ông Bùi Văn X không yêu cầu bồi thường gì
thêm và làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can Hứa Nghiệp
T.
Tại Bản Cáo trạng số 244/CT-VKS-P2 ngày 08/11/2023, Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Đồng Nai, có nội dung:
Truy tố Hứa Nghiệp T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm
a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HS-ST ngày 14/3/2024 của Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Nai, đã tuyên xử:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm a Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hứa Nghiệp T 09 (chín) năm tù về
tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành
án, được trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 02/6/2023 đến ngày 27/10/2023.
Bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan về tang vật, án phí, phạt
tiền và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Hứa Nghiệp T làm đơn kháng cáo, nêu lý do:
Mức án sơ thẩm quá nặng, bản thân bị cáo đã ăn năng hối hận và có lập công chuộc
tội, xin được xem xét giảm nhẹ mức án.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo xin được xem xét giảm nhẹ mức án, hiện bị cáo ăn năng hối hận, lập
công chuộc tội.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo
luật định, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm một phần
hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát
biểu quan điểm cho rằng hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, Tòa án cấp sơ
thẩm xét xử bị cáo là phù hợp, nay bị cáo có tình tiết mới sau khi xử sơ thẩm, nên
đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại
phiên tòa, nghe bị cáo trình bày, nghe đại diện Viện kiểm sát và luật sư phát biểu
quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Hứa Nghiệp T làm
trong hạn luật định, nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.
[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo:
[2.1] Vào ngày 30/5/2023, Hứa Nghiệp T đọc tin tức trên B và biết được
thông tin Phòng khám T2 có trụ sở tại số E, khu phố D, phường T, thành phố B,
tỉnh Đồng Nai do ông Bùi Văn X làm giám đốc bị lực lượng Công an thành phố B,
tỉnh Đồng Nai kiểm tra, khám xét thu giữ nhiều tài liệu, máy móc và tạm giữ 05
nhân viên để điều tra, xử lý.
Sau đó, T đã chủ động điện thoại liên hệ với ông X, đưa ra thông tin giả tự
giới thiệu mình là S đang công tác tại Công an thành phố B làm cho ông X tin
tưởng T có thể giúp đỡ và thả nhân viên của Phòng khám. Đồng thời T yêu cầu ông
X đưa số tiền 500.000.000đồng ông X đồng ý. Tới ngày 31/5/2023, ông X chuẩn bị
số tiền 500.000.000đồng bỏ trong bịch nilon màu đen và nhờ con trai là anh Bùi
Quốc M1 cùng với cháu gái là chị Bùi Thị H1 và anh Nguyễn Bá K (lái xe) đến
trước cổng Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai gặp T. Tại đây, chị H1 để lại bịch
tiền vào trong một bụi hoa giấy giữa hai làn đường xe ô tô phía trước cổng Công an
thành phố B cho T theo đúng hướng dẫn của T rồi bỏ đi. Sau khi chiếm đoạt số tiền
trên Hứa Nghiệp T đã bỏ trốn. Đến ngày 02/6/2023, T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra
Công an tỉnh Đ bắt giữ.
[2.2] Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với các tài liệu,
chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách
nhiệm hình sự, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt
tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định
pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến
quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã
hội tại địa phương. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhằm mục đích
giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem đến các tình tiết giảm nhẹ cho bị
cáo như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền
án, tiền sự, sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ số tiền
chiếm đoạt cho bị hại nên bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, những tình tiết
trên được pháp luật quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 và Điều 54 Bộ
luật Hình sự.
[2.3] Tại cấp phúc thẩm, bị cáo có nộp Văn bản số 357/PC04 ngày
03/6/2024 của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh K, về việc
ghi nhận công lao đóng góp của công dân trong đấu tranh phòng chống tội phạm
ma túy, có nội dung: Căn cứ vào thông tin của ông T cung cấp, khoảng 22giờ ngày
09/5/2024 Phòng PC04 Công an tỉnh K bắt quả tang đối tượng Trương Huy T1 về
hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, Công an tỉnh K đã ra Quyết định khởi tố vụ
án hình sự số 22/QĐ-CSMT và khởi tố bị can số 46/QĐ-CSMT ngày 15/5/2024 đối
với Trương Huy T1.
Xét, đây là tình tiết mới thuộc trường hợp người phạm tội đã lập công chuộc
tội, được pháp luật quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên cấp
phúc thẩm có cơ sở áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ này để giảm cho bị cáo một
phần hình phạt.
Ngoài ra, theo Sổ khám bệnh và kết quả siêu âm của bác sĩ chuyên khoa
bệnh viện Nguyễn Tri P thì bị cáo Hứa Nghiệp T đang bị các chứng bệnh về tim,
gan, phổi đang phải điều trị.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do chấp nhận một phần kháng cáo, nên bị
cáo Hứa Nghiệp T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,
không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
Bởi các lẽ trên;
Căn cứ Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Hứa Nghiệp T. Sửa một
phần bản án sơ thẩm.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
- Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Hứa Nghiệp T không phải chịu.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hứa Nghiệp T 07 (bảy) năm tù về tội
“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án,
được trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 02/6/2023 đến ngày 27/10/2023.
bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÊ HOÀNG TẤN |
Bản án số 840/2024/HS-PT ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (phúc thẩm)
- Số bản án: 840/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa 1 phần bản án sơ thẩm
