|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 84/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31-7-2024. V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Minh Trí
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Minh Lý.
- Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Lưu Kim Hằng - Kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1996; HKTT: Xóm V, khu phố T, thị trấn C, huyện S, tỉnh Phú Yên; địa chỉ tạm trú: Số A đường L, khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1995; HKTT: Xóm V, khu phố T, thị trấn C, huyện S, tỉnh Phú Yên; địa chỉ tạm trú: Số A đường L, khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/11/2023, đơn sữa đổi bổ sung đơn khởi kiện đề ngày 18/3/2024, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:
Bà M và ông L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện S, tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận kết hôn số 71/2016, ngày 05/9/2016. Cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do cả hai bất đồng quan điểm về tài chính và ông L không quan tâm chăm sóc vợ con. Đến nay nên vợ chồng đã không còn sống chung. Nay bà M xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà Mến yêu c được ly hôn với ông L.
- Về con chung: Quá trình sống chung, vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Thị Thanh H, sinh ngày 28/02/2017. Hiện nay con chung đang sống với ba mẹ ruột của ông L. Sau khi ly hôn, bà M đồng ý giao con chung cho ông Nguyễn Tấn L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai ngày 12/6/2024, bị đơn - ông Nguyễn Tấn L trình bày:
Ông L thống nhất như trình bày của bà M về quan hệ hôn nhân và con chung.
Ông L không đồng ý ly hôn vì ông L còn tình cảm với bà M và muốn con chung có được sự chăm sóc của bố mẹ.
Trong trường hợp ly hôn, ông L đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên Tòa: Nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt
Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử. Quá trình điều tra, việc thu thập chứng cứ, hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ và tống đạt văn bản tố tụng được Tòa án thực hiện đúng quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn vắng mặt có đơn để nghị giải quyết vắng mặt và bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt các đương sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày của các bên đương sự tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một là chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn.
Kiến nghị khắc phục: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật: Bà Nguyễn Thị M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Tấn L và yêu cầu giao con chung cho ông L nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn – ông Nguyễn Tấn L có nơi cư trú tại thành phố T, tỉnh Bình Dương vì vậy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương là Tòa án có thẩm quyền giải quyết.
[3] Về nội dung: Bà M và ông L chung sống với nhau năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện S, tỉnh Phú Yên và được Ủy ban nhân dân thị trấn C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 71/2016, ngày 05/9/2016. Do đó, theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình thì quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông L là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông L nợ tiền bên ngoài. Bà M cùng ông L trả được nợ thì lại phát sinh khoản nợ khác. Mặt khác, trong đời sống hàng ngày, ông L không chăm lo gia đình mà mê chơi game, mọi việc đều do bà M gánh vác, vợ chồng vì mâu thuẫn tiền bạc nên hay cải vã, ông L không hối hận hành vi sai trái của mình mà còn có hành vi bạo lực với bà M. Vợ chồng sống chung nhà nhưng không ai nói chuyện với ai. Đến tháng 12/2023, thì bà M dọn đồ đạc ra sống riêng cho đến nay, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Vì vậy, bà M khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông L. Ông L không đồng ý ly hôn với bà M vì cho rằng còn tình cảm với bà M. Xét thấy: Quan hệ hôn nhân tồn tại bền vững dựa trên tình cảm của vợ chồng, sống có trách nhiệm, thương yêu, chăm sóc, quan tâm lẫn nhau. Quá trình tố tụng, bà M đã được Tòa án tác động để hòa giải đoàn tụ, vận động ông L phải có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng đến nay tình trạng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không được giải quyết. Vợ chồng bà M và ông L vẫn mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai nên chứng tỏ tình trạng hôn nhân của bà M và ông L không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc. Do vậy, việc bà Mến yêu c được ly hôn với ông L là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về con chung: Quá trình sống chung, bà M và ông L có 01 con chung tên Nguyễn Thị Thanh H, sinh ngày 28/02/2017. Sau khi ly hôn, bà M đồng ý giao con chung cho ông Nguyễn Tấn L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông L cũng đồng ý theo yêu cầu của bà M. Tuy nhiên, hiện nay cháu H đang sống chung bố mẹ ruột của ông L ở quê, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai của cháu H. Tuy nhiên hiện nay ông L cũng có công việc và thu nhập ổn định, bà M cũng thường xuyên gửi tiền về quê cho ông bà nuôi con. Hiện tại sức khỏe của cháu H tốt và được học hành đầy đủ. Xét thấy mặc dù không lấy được lời khai của bé để biết nguyện vọng của bé sống với ai nhưng cả bà M và ông L đều thống nhất hiện nay bé được ông bà nội chăm sóc tốt. Vì vậy, để đảm bảo cho sự ổn định cuộc sống, học tập của cháu H nên việc giao con chung là cháu H cho ông L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và có sự hỗ trợ từ cha mẹ ruột của ông L nuôi dưỡng cháu H là đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông L không yêu cầu nên bà M không phải cấp dưỡng nuôi con
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7] Ý kiến phát biểu về nội dung giải quyết tranh chấp của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[8] Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Nguyễn Thị M đối với bị đơn - ông Nguyễn Tấn L về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Tấn L.
- - Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Thanh H, sinh ngày 28/02/2017 cho ông Nguyễn Tấn L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
- - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà M không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000785 ngày 15/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Huỳnh Minh Trí |
Bản án số 84/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 84/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
