Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 84/2024/DS -ST

Ngày: 31-7-2024

(V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng)

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Bà Lê Thị Phương Anh
    2. Ông Nguyễn Bính
  • - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Châu - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Nhã Uyên – Kiểm sát viên.

Vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 171/2024/TLST- DS ngày 03/4/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 468/2024/QĐXXST-DS ngày 26/6/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 488/2024/QÐST-DS ngày 12/7/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S

  • Địa chỉ trụ sở: 266 – B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Địa chỉ chi nhánh: C T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
  • - Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
  • - Người đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Đắc H – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh B.
  • Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Đắc H:
    1. Bà Phan Thị Bạch V – Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh B. (theo Giấy ủy quyền số 64/2024/GUQ-CNBT ngày 22/01/2024)
    2. Ông Nguyễn Thái H1 – Chức vụ: Chuyên viên quản lý nợ Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh B. (theo Giấy ủy quyền số 74/2024/GUQ-CNBT ngày 22/01/2024)

- Bị đơn: Bà Phạm Thái U, sinh năm 2004.

Địa chỉ: số A V, khu phố A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 05/01/2023, bà Phạm Thái U có ký với Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh B Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng - các tài liệu này gọi chung là Hợp đồng) đối với số thẻ 472074 – 1025 và 211251 – 6119 theo các nội dung như sau:

  • Hạn mức sử dụng thẻ: 25.000.000 đồng
  • Mục đích: Tiêu dùng
  • Lãi suất: 2,766%/tháng

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Phạm Thái U đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền là 12.900.000 đồng, phí và lãi phát sinh là 7.863.430 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, bà U đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 9.000.000 đồng (chi tiết theo sao kê đính kèm), dự nợ tính đến ngày 31/07/2024 là 11.763.430 đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 21 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Ngoài ra, bà U còn khoản vay tiêu dùng thẻ (đối với số thẻ 211251 – 6119) là 12.000.000 đồng (dựa trên hạn mức thẻ tín dụng được cấp). Trong quá trình sử dụng thẻ, bà U đã không thanh toán cho Ngân hàng số tiền nào đối với khoản vay này. Dư nợ của khoản vay này là 17.576.167 đồng.

Do bà Phạm Thái U vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng, bà Phạm Thái U vẫn không có thiện chí trả nợ. Ngày 10/5/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ đối với số thẻ 472074 - 1025 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu 14.581.681 đồng sang nợ quá hạn và dư nợ này chịu lãi suất quá hạn 4,149%/tháng (= 2,766%/tháng x 150%) (Điều 24 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng là áp dụng lãi suất quá hạn đối với toàn bộ Dư nợ theo quy định của S1. Sau 75 ngày kể từ ngày lập Thông báo giao dịch hoặc sau 03 (ba) kỳ Thông báo giao dịch liên tiếp, nếu Chủ Thẻ không thanh toán hoặc thanh toán ít hơn Số Tiền Tối Thiểu, S1 sẽ chấm dứt việc sử dụng thẻ của Chủ Thẻ).

Ngày 25/5/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ đối với số thẻ 211251 - 6119 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu 13.160.000 đồng sang nợ quá hạn và dư nợ này chịu lãi suất quá hạn 4,149%/tháng (= 2,766%/tháng x 150%). Lãi phát sinh từ ngày 10/5/2023 đến ngày 31/07/2024 là: 10.097.916 đồng.

Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Phạm Thái U phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tính đến ngày 31/07/2024 là 29.339.597 đồng, trong đó nợ gốc 19.241.681 đồng, nợ lãi 10.097.916 đồng và có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Đối với bị đơn bà Phạm Thái U:

Mặc dù, bị đơn bà Phạm Thái U đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật, nhưng bà Phạm Thái U không đến Tòa án để tham gia tố tụng cũng như không có lời khai, tài liệu chứng cứ gì trình bày về sự việc trên. Tòa án đã lập biên bản ghi nhận sự vắng mặt của bị đơn và lập biên bản không tiến hành hòa giải được, đồng thời thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho bà Phạm Thái U.

Vụ án không tiến hành hoà giải được do bị đơn không có mặt tại tòa.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng (nguyên đơn) đã tuân thủ đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Bị đơn không tuân thủ đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự cụ thể là không có mặt tại Toà cũng như không trình bày ý kiến và vắng mặt tại phiên toà xét xử vụ án nên việc Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo qui định của pháp luật.

Về nội dung:

Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Phạm Thái U phải trả nợ theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết.

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

1.1. Thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp:

Bị đơn bà Phạm Thái U có nơi cư trú tại khu phố A, phường Đ, Tp .. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

1.2. Bị đơn bà Phạm Thái U vắng mặt tại phiên toà xét xử vụ án lần thứ hai, mặc dù Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ tất cả các thủ tục nhưng bà Phạm Thái U vẫn không có mặt tại Toà để giải quyết vụ án, vì vậy Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

1. 3. Về thời hiệu khởi kiện:

Trong vụ án này các đương sự không yêu cầu áp dụng thời hiệu nên Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật không xem xét áp dụng thời hiệu.

[2] Về nội dung tranh chấp:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bà Phạm Thái U có vay vốn tại Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh B Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng) đối với số thẻ 472074 – 1025 và 211251 – 6119 có hạn mức tín dụng là 25.000.000 đồng. Mục đích: Tiêu dùng. Lãi suất: 2,766%/tháng

Việc sử dụng thẻ này không có tài sản đảm bảo (khoản vay không có tài sản đảm bảo).

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Phạm Thái U đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền là 12.900.000 đồng, phí và lãi phát sinh là 7.863.430 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, bà U đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 9.000.000 đồng (chi tiết theo sao kê đính kèm), dự nợ tính đến ngày 31/07/2024 là 11.763.430 đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 21 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Ngoài ra, bà U còn khoản vay tiêu dùng thẻ là 12.000.000 đồng (dựa trên hạn mức thẻ tín dụng được cấp) nhưng chưa trả cho Ngân hàng khoản tiền nào.

Xét hình thức và nội dung của hợp đồng tín dụng nêu trên được ký kết trên cơ sở tự nguyện, không trái đạo đức và pháp luật, tuân thủ theo các quy định tại các Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 và phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

Xét thấy, tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng) do các bên ký ngày 05/01/2023, bà U đã ký và xác nhận cam kết: Bằng việc ký vào giấy đề nghị này, tôi xác nhận rằng đã đọc hiểu và chấp nhận bị ràng buộc bởi điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của S1. Vì vậy các đương sự phải chịu lãi suất và các loại phí phát sinh quy định trong bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân S2 mà bà đã ký kết với Ngân hàng.

Tuy nhiên quá trình sử dụng thẻ tín dụng bà Phạm Thái U không thanh toán hết nợ gốc và lãi vay đầy đủ theo cam kết trong các hợp đồng đã ký kết. Do bà Phạm Thái U vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà Phạm Thái U và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn và khởi kiện bà Phạm Thái U yêu cầu trả nợ. Điều này phù hợp với quy định tại Điều 24 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng là áp dụng lãi suất quá hạn đối với toàn bộ Dư nợ theo quy định của S1.

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự 2015 thì: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Đồng thời căn cứ theo quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì giữa tổ chức tín dụng và khách hàng thì các bên có quyền thỏa thuận mức lãi suất. Khi thực hiện hợp đồng cả hai bên đã áp dụng mức lãi suất theo thỏa thuận trong hợp đồng. Bị đơn bà Phạm Thái U đã cam kết bị ràng buộc bởi điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng trong Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân nhưng thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn, vi phạm quy định của Bộ luật dân sự. Vì vậy, việc Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu bà U phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ còn lại cho Ngân hàng như đã cam kết là phù hợp với quy định tại Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng là có cơ sở nên được chấp nhận. Buộc bà Phạm Thái U phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP S số tiền tính đến ngày 31/7/2024 và tiền lãi suất phát sinh trên mức dư nợ gốc chưa thanh toán kể từ ngày 01/8/2024 cho đến khi bà U trả xong số nợ trên cho Ngân hàng theo quy định tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân đã ký kết ngày 10/01/2023.

[3] Về án phí:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Phạm Thái U phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng:
    • Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 262 của Bộ Luật tố tụng dân sự;
    • - Điều 463, Điều 466 Bộ Luật dân sự;
    • - Điều 91, 95 Luật tổ chức tín dụng;
    • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
    • - Luật thi hành án dân sự.
  2. Tuyên xử:
  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.

    Buộc bà Phạm Thái U phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tính đến ngày 31/07/2024 là 29.339.597 đồng, trong đó nợ gốc 19.241.681 đồng, nợ lãi 10.097.916 đồng và có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh theo thỏa thuận trong Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng) do các bên ký ngày 05/01/2023.

    Ngoài ra kể từ ngày 01/8/2024 bà Phạm Thái U còn phải chịu lãi suất phát sinh trên mức dư nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi bà U trả xong số nợ trên cho Ngân hàng TMCP S theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ký ngày 05/01/2023.

  4. Về án phí khác:
  5. Bà Phạm Thái U phải chịu 1.466.979 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    H2 lại cho Ngân hàng TMCP S 665.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0001472 ngày 02/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.

Án xử công khai, sơ thẩm có mặt người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Quyền kháng cáo bản án của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Quyền kháng cáo bản án của bị đơn vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Phan Thiết;
  • - Chi cục T;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hồng H3

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2024/DS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 84/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger